XUYÊN KHUNG

(Radix Ligustici Wallichii)

Xuyên khung dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh, là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Xuyên khung ( Ligusticum Wallichi Franch, Ligusticum chuanxiong Hort) thuộc họ Hoa tán Umbelliferae. Còn có tên Khung cùng.

Tính vị qui kinh:

Vị cay tính ôn, qui kinh Can Đởm, Tâm bào.

Theo các sách cổ:

Thành phần chủ yếu:

Trong Xuyên khung có Saponin, dầu bay hơi, acid a ngùy. Theo nghiên cứu gần đây của các học giả Trung quốc, trong Xuyên khung có 3 chất kết tinh trong đó có Perlolyrine.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Hoạt huyết hành khí, khu phong chỉ thống. Chủ trị các chứng rối loạn kinh nguyệt, bế kinh thống kinh, khó sanh, sau sanh đau bụng, ngực sườn đau tức, chân tay tê dại, mụn nhọt đau nhức, chấn thương té ngã, đau đầu, chứng phong thấp tý.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

1.Tác dụng đối với tim: Trên thực nghiệm ếch hoặc cóc đối với tim cô lập hay chỉnh thể với nồng độ thấp có tác dụng hưng phấn, tim co bóp tăng, nhịp tim chậm lại. Nồng độ cao, có tác dụng ngược lại ức chế tim làm giãn tim và tim ngừng đập.

2.Đối với tuần hoàn mạch vành: Chất chiết xuất của Xuyên khung có tác dụng làm giãn mạch, tăng lưu lượng máu ở mạch vành, cải thiện tình trạng thiếu oxy cơ tim.

3.Thuốc làm giãn mạch ngoại vi và hạ áp: nước hoặc cồn ngâm kiệt Xuyên khung và chất ancaloit chích cho thỏ, mèo và chó được gây mê đều có tác dụng hạ áp lâu dài. Những thí nghiệm dùng nước ngâm kiệt của Xuyên khung bơm vào bao tử của chó và chuột gây huyết áp cao mạn tính do viêm thận hoặc huyết áp cao kiểu coctison đều có tác dụng hạ áp. Đơn độc dùng Xuyên khung không có tác dụng hạ áp rõ rệt, nhưng tác dụng gia tăng tác dụng hạ áp của resecpin. Hoạt chất Xuyên khung còn có tác dụng làm giảm sức cản của huyết quản ngoại vi, tăng lưu lượng máu của động mạch chủ và chân, tăng số lượng hoạt động mao mạch và tăng tốc độ máu của vi tuần hoàn.

4.Thuốc có tác dụng ức chế sự ngưng tập của tiểu cầu và sự hình thành máu cục.

5.Xuyên khung làm tăng lưu lượng máu ở não, làm giảm phù não, do đó có tác dụng phòng thiếu máu não và chứng đau nửa đầu, có tác dụng điều trị chứng điếc tai bột phát do thần kinh, phòng được sự hình thành máu cục sau khi cấy da.

6.Thuốc có tác dụng an thần rõ rệt: dùng nước sắc Xuyên khung thụt vào bao tử chuột nhắt và chuột cống đều có thể làm cho chuột giảm hoạt động tự phát, làm tăng tác dụng gây ngủ của loại thuốc ngủ natri barbital và tác dụng đối kháng với cafein hưng phấn trung khu thần kinh.

7.Tác dụng đối với cơ trơn: liều nhỏ dịch ngâm kiệt Xuyên khung có tác dụng làm tăng co bóp cơ tử cung cô lập của thỏ mang thai, lượng lớn trái lại làm cơ tê liệt. Đối với ruột cô lập của thỏ và chuột Hòa lan cũng có tác dụng tương tự, lượng nhỏ làm tăng nhu động ruột và lượng lớn làm tê liệt. Saponin Xuyên khung, acid A ngùy và thành phần lipit nội sinh trung tính cũng có tác dụng tương tự.

8.Xuyên khung còn có tác dụng chống phóng xạ, kháng khuẩn và chống nấm ngoài da, còn có tác dụng trị chứng thiếu vitamin E.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị đau đầu:

2.Trị bệnh mạch vành đau thắt ngực:

3.Trị viêm cột sống phì đại và gai xương gót chân:

Dùng bột Xuyên khung đựng vào bọc đắp vào chỗ đau hoặc lót vào giầy, mỗi tuần thay 1 lần, sau 5 - 10 ngày hết hoặc giảm đau, có người sau 2 tháng tái phát tiếp tục đắp lại ( Báo Tân y học 1975).

4.Trị nhồi máu não và tắc mạch não:

Dùng dịch tiêm phức phương Xuyên khung ( Xuyên khung, Xích thược, Đan sâm, Xuyên qui trị nhồi máu não và tắc mạch não 400 ca. Theo dõi bằng chụp động mạch não, điện tâm đồ, lưu lượng huyết dịch đều có cải thiện ( P nhỏ hơn 0,005 - 0,001; tỷ lệ có kết quả 94,5%). ( Tạp chí Trung tây y kết hợp 1986,6(4):234).

5.Trị đau dây thần kinh tam thoa:

Dùng thuốc sắc Xuyên khung ( Xuyên khung 30g, Đương quy, Đan sâm, Bạch thược, Sài hồ, Hoàng cầm, Bạch chỉ, Toàn yết, Thuyền thoái, Địa long đều 9g), trị 21 ca đau dây thần kinh tam thoa trong 1 tháng, tỷ lệ có kết quả 90,6% ( Tạp chí Trung y Hồ bắc 1982,4:34).

6.Trị đau nhức các khớp và mình mẩy:

7.Trị ngực sườn đau tức:

8.Trị kinh bế, đẻ khó, rau thai không ra, kinh nguyệt không đều:

9.Đau bụng kinh: Kinh nguyệt có máu cục, màu tím đậm, dùng Xuyên khung phối hợp Đào nhân, Hồng hoa, Đương qui, Bạch thược như bài Đào hồng tứ vật thang ( Y tông kim giám - Phụ khoa tâm pháp yếu quyết).

10.Trị tai biến mạch máu não ( Bán thân bất toại, chân tay tê dại): Dùng bài Huyết phủ trục ứ thang ( Sanh địa, Đương qui, Bạch thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Chỉ xác, Sài hồ, Cát cánh, Ngưu tất, Cam thảo).

11.Dùng trong ngoại khoa:

Liều lượng và cách dùng: