UY LINH TIÊN

(Radix Clematidis)

Uy linh tiên dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Tân tu bản thảo là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Uy linh tiên có tên khoa học là Clematis chinensis Osbeck hoặc cây C.hexapetale Pall hoặc cây C.manshurica Rupr.

Cây Clematis chinensis được dung nhiều, hai loại sau chỉ dùng ở một số địa phương. Cây Uy linh tiên sinh sản nhiều ở các tỉnh Giang tô, An huy, Triết giang Trung quốc. Ở nước ta chưa thấy phát hiện, chỉ nói đến Nam Uy linh tiên là cây Bạch hạc ( Kiến cò) không phải Uy linh tiên trong bài này).

Tính vị qui kinh:

Vị cay mặn, ôn. Qui kinh Bàng quang.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Anemonin, anemonol, sterol, saponin, phenol, oleanolic acid, đường.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Trừ phong thấp, thông kinh lạc, chỉ tý thống. Chủ trị phong thấp tý thống, gân co giật, trị hóc xương cá.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Cho chó uống nước sắc rễ Uy linh tiên, tần số nhu động thực quản tăng, biên độ lớn hơn. Người sau khi hóc xương cá, vùng trên của thực quản và họng co thắt, uống Uy linh tiên vào được thư giãn (do tác dụng kháng histamin của thuốc), nhu động thay đổi, xương rơi (đó là căn cứ trị hóc xương mà y văn cổ đã nói).
  2. Uy linh tiên có tác dụng kháng histamin đối với cơ trơn ruột thỏ cô lập. Nước sắc chiết cồn đều có tác dụng lợi mật.
  3. Uy linh tiên (loại C . Manchurica Rupr.) có tác dụng bảo hộ chống thùy sau tuyến yên gây thiếu máu cơ tim, chống lại thiếu oxy.
  4. Dịch cồn lỏng chiết xuất rễ có tác dụng dục sản đối với chuột nhắt có thai thời kỳ giữa.
  5. Thành phần anemonin trong thuốc có tính kích thích gây mụn phỏng ngoài da, xung huyết niêm mạc.
  6. Nước sắc của thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn lî Shigella. Thành phần anemonin trong thuốc có tác dụng ức chế đối với một số khuẩn Gram dương và Gram âm, nấm.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị đau khớp do phong thấp, lưng gối đau nhiều:

2.Trị đau bao tử cơ năng:

3.Trị hóc xương cá:

4.Trị viêm cột sống phì đại 65 ca và chấn thương cơ vùng lưng 32 ca: dùng dịch Uy linh tiên chích bắp đều có kết quả ( Qui Thành và cộng sự, báo Thông tin Trung thảo dược 1979,7:13).

5.Trị nấc cụt: Uy linh tiên và mật ong mỗi thứ 30g, sắc uống. Lý trụ Hoa dùng trị 60 ca có kết quả trên 90% ( Báo nghiên cứu Trung thành dược 1982,2:46).

6.Trị sỏi mật: mỗi ngày dùng Uy linh tiên 30 - 60g sắc uống. . Lục Hoan Thanh đã dùng trị 120 ca sỏi mật, kết quả 87%. Tác giả nghiên cứu chích thuốc cho thỏ phát hiện lượng mật tiết tăng nhiều, cơ vòng Oddi giãn rõ (Báo Trung y Hà nam 1987,6:22).

7.Phản ứng độc tính:

Tác giả giới thiệu dùng lá nhỏ Uy linh tiên đắp ngoài ( 3 ca đắp lá tươi phản ứng mạnh, 1 ca đắp lá khô phản ứng nhẹ) da nổi mụn phỏng lớn, sưng đỏ đau, bóc da và để lại sẹo tím lâu hết (Lưu ngọc Thư, Học báo Trung y dược 1978,2:43).

Liều lượng và chú ý lúc dùng: