TIỂU HỔI HƯƠNG

(Fructus Foeniculi vulgris)

Tiểu hồi hương dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Dược tính bản thảo là quả chín phơi hay sấy khô của cây Hồi hương có tên thực vật là Foeniculum vulgare Mill. Cây được trồng nhiều ở vùng Sơn tây, Cam túc, Liêu ninh, Nội mông Trung quốc. Nước ta chưa có, còn phải nhập hoặc dùng Đại hồi thay thế. Còn có tên là Cốc Hồi hương.

Tính vị qui kinh:

Tiểu hồi tính vị cay ôn, qui kinh Can Thận Tỳ Vị.

Theo các sách cổ:

Thành phần chủ yếu:

Dầu Hồi hương thành phần chủ yếu có anethol, fenchone, a-pinene, camphène, dipentene, a-phallandrene, anise aldehyde, anisic acid, estragole, cis-anethole, p-cymene, petroselinic acid, stigmasterol, 7-hydroxycoumarin.

Tác dụng dược lý:

Tiểu hồi có tác dụng tán hàn, ấm can, ôn thận chỉ thống, lý khí khai vị.

Chủ trị các chứng: hàn sán phúc thống, cao hoàn thiên trụy(sa tinh hoàn) thận hư yêu thống, bụng sườn đau, nôn, ăn ít.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu theo dược lý hiện đại:

  1. Dầu Hồi hương có tác dụng tăng nhu động ruột và tăng tiết dịch của dạ dày và ruột, kích thích trung tiện lúc đầy bụng. Thuốc làm giảm co thắt ruột, nhờ vậy mà giảm đau bụng.
  2. Thuốc có tác dụng hạn chế hiệu quả chống lao của Streptomycine trên súc vật thí nghiệm (chủ yếu là thành phần anethole).
  3. Fenchone là dị thể (Isomer) của camphor cho nên cũng như Bạc hà có tác dụng kích thích tại chỗ.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị sán khí (hermia - sa ruôt): dùng các bài sau:

2.Trị âm nang tích thủy (hydrocèle):

3.Trị chứng bạch đới do hàn:

Liều lượng và chú ý lúc dùng: