THƯƠNG TRUẬT

(Rhizoma Atractylodis)

Thương truật còn gọi là Mao truật, Xích truật, Nam Thương truật là thân rễ của cây Thương truật, tên thực vật là Atractylodes chinensis (DS) Loidz (Bắc Thương truật) thuộc họ Cúc (Compositae).

Gần đây cây Thương truật có trồng ở Việt nam nhưng chưa phát triển, ta còn phải nhập của Trung quốc. Tại Trung quốc cây Thương truật mọc nhiều ở các tỉnh Giang tô, Hồ bắc, Hà nam, loại mọc ở Giang tô được xem là tốt nhất. Bắc Thương truật chủ yếu mọc ở Hà bắc, Sơn tây, Thiểm tây.

Thương truật dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Kinh sử chứng loại bị cấp bản thảo, quyển 6. Còn sách Bản kinh chỉ ghi Truật mà không viết rõ Thương truật hay Bạch truật.

Tính vị qui kinh:

Thương truật vị cay đắng tính ôn, qui kinh Tỳ vị.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Tùy loại mà thành phần có khác:

  1. Trong loại Rhizoma Atractylodis Lancea có: atractylol, hinesol, beta-eudesmol.
  2. Trong loại Rhizoma Atractylodis chinensis có: atractylol, atractylone, hinesol, beta-eudesmol.
  3. Trong loại Rhizoma Atractylodis Japonica có: atractylol, hinesol, beta-eudesmol, atractylone.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Thương truật có tác dụng: táo thấp kiện tỳ, phát hãn, trừ phong thấp, minh mục.

Chủ trị các chứng: thấp trở trung tiêu, tiết tả, ẩm tích (báng do ăn uống), quáng gà, mắt khô.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Lượng ít Tinh dầu Thương truật có tác dụng an thần đối với ếch thực nghiệm, đồng thời khiến cho phản xạ tủy sống tăng mạnh, lượng cao có tác dụng ức chế, làm tê liệt hô hấp và tử vong.
  2. Đối với chuột lớn gây mô hình gan bị tổn thương do CCl4, thuốc có tác dụng bảo hộ.
  3. Tinh dầu Thương truật in vitro có tác dụng ức chế tế bào ung thư thực quản.
  4. Thương truật, Ngãi diệp hun khói khử trùng có tác dụng diệt khuẩn đối với virus (như virus quai bị, cúm.), liên cầu khuẩn týp B, tụ cầu vàng và một số nấm gây bệnh.
  5. Thương truật có tác dụng hạ đường huyết. Do dược liệu và chủng loại khác nhau, nên kết luận có khác. Có tác giả cho rằng glycosid Thương truật có tác dụng hạ đường huyết. Có tác giả cho thỏ gây đường huyết nhân tạo, chế phẩm Thương truật lúc đầu có tăng tiếp theo có hạ nhẹ. Khi thuốc được cho đều trong 10 ngày thì đường huyết hạ có ý nghĩa (từ mức 401mg% xuống 160mg%), nếu theo dõi trong 17 ngày mức đường huyết vẫn thấp hơn lúc bắt đầu thí nghiệm.
  6. Nước sắc Mao Thương truật bơm vào dạ dày chuột đồng, không có tác dụng lợi niệu, nhưng lượng bài tiết Natri vcà Kali lại tăng rõ.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng còi xương trẻ em:

2.Phòng bệnh nhiễm đường hô hấp: Bệnh viện Hoa đông và một số đơn vị dùng đốt điếu vòng Thương truật Ngãi diệp (cứ mỗi 45M3, đốt 1 vòng), tại 18 vườn trẻ, 3 trường tiểu học có 2349 trẻ có tiếp xúc thủy đậu, quai bị, tinh hồng nhiệt (fever scarfat) được theo dõi, kết quả:

3.Trị viêm khớp đau do phong hàn thấp hoặc do thấp nhiệt:

4.Trị rối loạn tiêu hóa , bụng đầy, tiêu chảy, nôn, buồn nôn:

Ngoài ra, Thương truật còn dùng trị chứng quáng gà, nấu với gan lợn ăn.

Liều lượng thường dùng và chú ý: