THẠCH XƯƠNG BỔ

(Rhizoma Acori Graminei)

Thạch xương bồ dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh còn có tên Xương bồ, Cửu tiết xương bồ, là thân rễ phơi khô của cây Thạch xương bồ Acorus Gramineus Soland. Còn Thủy xương bồ (Rhizoma Acori calami) là thân rễ phơi khô của cây Thủy xương bồ Acorus Calamus L. Thạch xương bồ cũng như Thủy xương bồ mọc khắp nơi ở miền Trung và Bắc nước ta. Cây Xương bồ thuộc họ Ráy ( Araceae).

Tính vị qui kinh:

Thạch xương bồ vị cay tính ôn, qui kinh Tâm Vị

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

  1. Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam:
  2. + Thạch xương bồ có chừng 0,5 - 0,8 tinh dầu, trong tinh dầu có chừng 86% asaron, một ít chất phenol và acid béo.

    + Thủy xương bồ có 1,5 - 3,5% tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu cũng là asaron rồi đến asarylandehyt có glucozit đắng gọi là acorin và tanin.

  3. Theo sách Chinese herbal medicine: thành phần chủ yếu của Thạch xương bồ có Beta-asaron, asaron, caryophyllene, ahumulene, sekishone.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Thạch xương bồ có tác dụng khai khiếu ninh thần, hóa thấp hòa vị. Chủ trị các chứng thần khí hôn mê, hoảng loạn do đàm trọc bế tắc (đàm trọc mông tê), hay quên (kiện vong), ù tai, điếc tai (nhĩ minh, nhĩ lung), báng đầy do thấp (thấp trở bỉ mãn), lî, cấm khẩu.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Thuốc sắc, thuốc sắc khử dầu đều có tác dụng an thần, tinh dầu có tác dụng gây ngủ. Thuốc sắc còn có tác dụng chống co giật. Dầu bay hơi của Thạch xương bồ làm giảm vận động của chuột và làm giảm tác dụng kích thích của Ephedrin đối với hệ thần kinh trung ương. Thuốc sắc làm kéo dài tác dụng của thuốc barbiturate.
  2. Thuốc sắc và tinh dầu của thuốc đều có tác dụng làm giảm co thắt của cơ trơn dạ dày và ruột và làm tăng tiết đường tiêu hóa.
  3. Nước sắc của thuốc hạ chế sự lên men quá mạnh của đường tiêu hóa.
  4. Tinh dầu của thuốc có tác dụng hạ nhiệt đối với chuột trắng thí nghiệm.
  5. Dịch chiết xuất nồng độ cao của thuốc có tác dụng ức chế nấm gây bệnh ngoài da.
  6. Độc tính: liều lượng lớn của thuốc gây co giật ở chuột và dẫn đến chết.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị động kinh: dùng chất chiết xuất của Thạch xương bồ Asrone trị 90 ca cơn động kinh lớn, người lớn mỗi lần 50mg, ngày 3 lần, trẻ em giảm liều, một liệu trình 1 tháng, theo dõi lâm sàng từ 3 tháng đến 2 năm, có kết quả 83,3% ( Trần kiến Gia, Thông báo dược học 1982,9:50). Một báo cáo khác của Trần Kiến Gia dùng Asarone chích bắp, lần đầu 20mg, trong 30 phút nếu còn tái phát chích 20mg nữa, trẻ em giảm liều, hoặc truyền tĩnh mạch (1 - 2mg/kg cân nặng cho vào dịch 10% glucoz). Đã cấp cứu 18 ca động kinh cơn liên tục, kết quả tốt 8 ca, có kết quả 10 ca, tỷ lệ kết quả 100% ( Tạp chí Trung y 1982,12:39).

2.Trị bệnh não do phổi: Chế dịch tiêm Thạch xương bồ (0,5% dung dịch tinh dầu).

Đã trị 279 ca, tỷ lệ có kết quả 74,97%, những triệu chứng chung về tinh thần như mất trí, ý thức lơ mơ hết nhanh, ho suyễn và tím tái cũng được cải thiện (Kim duy Nhạc, Kỷ yếu nghiên cứu Trung thành dược 1982,10:22).

3.Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: dùng viên Asarone 60mg, ngày uống 3 lần liên tục, 14 - 21 ngày là một liệu trình. Đã trị 148 ca viêm phế quản mạn tính và hen phế quản đạt kết quả tốt là 61,1% ( Dương Ngọc, Báo Tân dược và lâm sàng 1986,4:210).

4.Trị trẻ em trí lực phát triển kém: dùng Thạch xương bồ kết hợp với Nhân sâm, Viễn chí, Bổ cốt khí, Đậu khấu, sữa bột cacao, đường chế thành Bánh Dưỡng trí tăng lực trẻ em. Mỗi lần uống 10 - 15g, ngày 2 lần, 2 tuần là một liệu trình, thời gian điều trị 3 tháng. Đã trị 30 ca đều có cải thiện chức năng vỏ não, nâng cao tư duy và khả năng phân tích ( La Thiện Hoa và cộng sự. Kỷ yếu nghiên cứu Trung thành dược 1982,6:22).

5.Trị chứng hôn mê sốt cao do đàm mê tâm khiếu:

6.Trị đau đầy vùng thượng vị do trúng hàn khí trệ:

7.Trị lî cấm khẩu:

Liều lượng thường dùng và chú ý: