THẠCH SÙNG

( Gekko Suinhouna Gunther)

Thạch sùng tức con Thằn lằn còn có tên là Thủ cung, Thiên long, Bích hổ, Hát hổ. Dùng làm thuốc được ghi đàu tiên trong sách Bản thảo kinh tập chú thuộc nhiều loại Thạch sùng, có tên khoa học là Hemidactylus Frenatus Schleghel đều thuộc loại Tắc kè ( Gekkonnidae).

Con Thạch sùng sống khắp nơi ở nước ta. Vào mùa hè thu, vào tối dùng đèn soi bắt bằng tay nắm đầu bóp chết hoặc dội nước sôi, đuôi dùng chỉ buộc đừng để mất đuôi, kẹp tre phơi hay sấy khô. Dùng cả con với ruột làm thuốc. Nên chú ý bảo quản tốt để trong hộp kín có đựng vôi sống vì thuốc dễ sinh sâu mọt.

Tính vị qui kinh:

Thạch sùng vị hàn mặn, có độc ít.

Theo sách Bản thảo cương mục: mặn hàn, có độc ít.

Thành phần chủ yếu:

Chất béo ( tỷ lệ 11,92 - 15,97% theo Trần Huyền Trân 1970), protid và một loại chất có độc. Trong chất béo có lecitin, lyzolecitin, sphingomyelin, cephalin, cardiolipin, phosphattidyn serin và phosphatidylinontola, một chất giống histamin

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Vì Thạch sùng có tác dụng tán kết giải độc, chỉ thống, khu phong, định kinh.

Chủ trị các chứng: Loa lịch, sang dương, nham thủng ( lao hạch, mụn lở loét, ung thư), phong thấp tý thống, phá tương phong ( uốn ván), kinh giãn ( động kinh).

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Dung dịch của thuốc in vitro có tác dụng ức chế hô hấp tế bào ung thư gan.
  2. Có tác dụng ức chế trực khuẩn lao và một số nấm gây bệnh thường gặp.
  3. Có tác dụng an thần gây ngủ chống co giật và chống ung thư huyết.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị bệnh lao:

2.Trị lỗ rò do lao: dùng Thằn lằn 30g, Trân châu nung 3g, Băng phiến 1 - 2g, đều tán bột mịn, lúc dùng căn cứ theo lỗ rò to nhỏ, dùng gạo vô trùng tẩm bột thuốc vừa đủ cho vào, mỗi ngày thay 1 lần. Đã trị 102 ca đều khỏi ( Trần Học Tiến, Báo Tân trung y 1985,10:16).

3.Trị lỗ rò do vết mổ: dùng Thằn lằn nung khô tán bột mịn, sau khi rửa sạch vết mổ bằng nước muối sinh lý, thổi vào một lớp bột Thằn lằn khô, dùng gạc vô trùng đắp tránh nhiễm trùng, mỗi ngày thay 1 lần. Trong uống bột Tam thất hợp ( Tam thất, Bạch cập, Xuyên Bối mẫu đều 2gDDiaj miết trùng 1g, tán bột trộn đều), ngày 3 lần, mỗi lần 1 - 2g, & ngày là một liệu trình. Đã trị 45 ca do nhiều loại phẫu thuật gây nên vết mổ có lỗ rò, khỏi 38 ca, có chuyển bién 3 ca, không khỏi 4 ca ( Vương trọng Cửu, Báo Y dược Giang tây 1964,4:187).

4.Trị lỗ rò do viêm nhiễm mạn tính: Làm sạch lỗ rò, tùy lỗ rò to nhỏ nông sâu mà chọn 1 cái duôi Thằn lằn vừa dùng ngâm vào cồn 1 phút để vô trùng rồi nhét vào lỗ rò, dùng gạc tẩm vaselin đắp lại ( hoặc gạc tẩm dầu mù u), cố định băng băng dính, mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Đã trị 30 ca, khỏi 29 ca ( Đường Hùng Nghiệp Báo Y học Nông thôn Trung quốc 1988,3:26).

5.Trị ung thư gan: mỗi ngày dùng 2 con Thằn lằn nung khô tán bột uống. Trị ung thư gan kết quả tốt. Tác giả đã trị 2 ca: 1 ca đã sống 40 tháng, 1 ca sau 6 tháng điều trị đã hồi phục, công tác trở lại bình thường ( Lữ Tố Trân Tạp chí Trung y Giang tây 1985,7:316).

6.Trị hen phế quản: Bắt 1 con Thằn lằn (nhỏ thì 2con) cho vào cối giã nhuyễn thêm vào 1 quả trứng gà trộn đều, không cho muối, cho dầu vào chảo rán ăn, ăn lúc đói vào lúc sáng sớm, ngày 1 lần ( trẻ em giảm liều). Đã trị 7 ca đều có kết quả ( Triệu Pháp Văn, Tạp chí Trung y Sơn đông 1983,5:43).

7.Trị lao hạch: Trường hợp mới mắc chưa vỡ, Thằn lằn nung tán bột, mỗi ngày uống 1/2 phần (1/2 con), trường hợp đã vỡ miệng, dùng bột rắc ngoài, thuốc có tác dụng làm sạch chỗ loét, chống nhiễm khuẩn, thu miệng, nếu có lỗ rò trị bằng đuôi Thằn lằn như trên. Hoặc dùng bài thuốc: Ngô long tán (Thằn lằn, Ngô công đều 15g, Hoàng thăng, Băng phiến đều 3g, tán bột mịn, bôi vào chỗ loét của tràng nhạc hoặc các loại loét khác do lao. Thuốc có tác dụng sát trùng giải độc bài nùng, khử hủ, tán kết tiêu sưng ( Sách Loa lịch chứng trị, ngoại trị phương).

8.Trị các chứng lở loét lâu ngày không khỏi hoặc có rò, đau nhức: dùng độc vị sấy khô tán bột trộn dầu bôi vào ( Bản thảo cương mục quyển thứ 43: Thủ cung). Các vết thương hoặc ung nhọt có mủ đều dùng có kết quả. Trường hợp mủ nhiều, 2 ngày thay thuốc 1 lần, mủ ít 4 ngày 1 lần, đều có kết quả. Trị ung thư thực quản, ung thư gan, ung thư dạ dày, ung thư lâm ba ác tính ( lymphosarcome).

9.Trị các chứng ung thư: Dùng Thằn lằn chích tán bột mịn, mỗi lần uống 5g, ngày 2 lần, hoặc uống mỗi ngày 1 - 3 con, tán bột chia 2 - 3 lần, uống với rượu gạo. Cũng có thể phối hợp với các thuốc khác như trị ung thư gan cùng với Thiềm tô, Long quí; Trị ung thư dạ dày phối hợp với Ngô công; Trị ung thư phổi phối hợp với Trư linh, Trân châu thái ( rau Trân châu), Sơn đậu căn.

10.Trị chứng đau phong thấp ( viêm khớp, viêm khớp dạng thấp) dùng bài:

11.Trị động kinh thể đàm nhiệt dùng bài:

Trường hợp động kinh lâu ngày, tâm huyết bất túc, dùng bài:

Liều lượng thường dùng và chú ý: