SƠN THÙ DU

( Fructus Corni Officinalis)

Sơn thù du còn gọi là Sơn thù, Thù nhục, Táo bì dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh là quả bỏ hột của cây Sơn thù du ( Cornus officinalis Sieb et Zucc.) Nước ta hiện đang còn phải nhập Sơn thù của Trung quốc. Cây này mọc hoang hoặc được trồng nhiều tại các tỉnh Thiểm tây, Sơn đông, Hà nam, An huy, Triết giang, Tứ xuyên.

Quả Sơn thù được hái về bỏ hạt phơi khô làm thuốc. Lúc bào chế, lấy 100kg Sơn thù cho vào 20 kg rượu trộn đều chưng khô đem phơi khô. Sơn thù du hình dáng như quả táo nên gọi là Táo bì.

Tính vị qui kinh:

Sơn thù vị chua, tính hơi ôn, qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Saponin ( 13%), verbenalin, ursolic acid, tanin, vitamin A.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Sơn thù du có tác dụng bổ ích can thận thu liễm cố sáp. Chủ trị các chứng: Can thận hư tổn, huyễn vựng, dương nuy, hoạt tinh di tinh, hư hãn ( mồ hôi trộm), băng lậu.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Nước sắc Sơn thù in vitro có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn lî thương hàn. Trên thực nghiệm, thuốc có tác dụng giết chết tế bào ung thư ở nước bụng.
  2. Trên súc vật thí nghiệm, thuốc có tác dụng lợi tiểu, hạ áp.
  3. Thuốc có tác dụng hạ đường huyết nhẹ.

Ứng dụng lâm sàng:

Sơn thù nhục thường dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trị các chứng do cơ thể hư nhược như:

1.Trị chứng suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể do thận hư, biểu hiện liệt dương, di tinh, váng đầu, ù tai, điếc tai, tiểu nhiều lần.

2.Trị chứng ra mồ hôi trẻ em hoặc cơ thể suy nhược sau khi mắc bệnh:

3.Trị phụ nữ kinh nguyệt ra nhiều do cơ thể yếu hoặc do tiểu cầu giảm dùng bài:

4.Trị chứng tăng cholesterol máu: dùng bài:

Liều lượng thường dùng và chú ý: