RẮN HỒ MANG

(Bạch hoa xà)

Rắn dùng làm thuốc có nhiều loài, thường là những loài rắn độc. Tài liệu này chủ yếu giới thiệu loài rắn hổ mang Ancistrodons acutus (Gunther) có nhiều ở miền Nam Trung quốc như Phúc kiến, Quảng đông, Quảng tây và có phát hiện ở Hoàng liên sơn (Chapa) Việt nam.

Bạch hoa xà dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Lôi công bào chích luận. Rắn cung cấp nhiều bộ phận làm thuốc như: thịt, xương, xác rắn lột (xà thoái), mật và nọc rắn. Rắn bắt về bỏ hết tạng phủ lấy xương thịt toàn thân phơi hay sấy khô để làm thuốc (hoặc bỏ xương da chỉ lấy thịt).

Tính vị qui kinh:

Vị ngọt mặn, ôn có độc. Qui kinh Can Tỳ.

Sách Lôi công bào chế dược tính giải: nhập kinh Can Phế.

Thành phần chủ yếu:

Qua các tài liệu nghiên cứu được biết có:

  1. Thịt rắn có: protid, mỡ, 0,55% chất saponozit.
  2. Mật rắn có: cholesterin, acid panmitic, acid stearic và taurin.
  3. Nọc rắn có: chất như glycoprotein thrombin, lipase và 3 loại chất chống đông.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Khu phong, hoạt lạc định kinh. Chủ trị chứng đau phong thấp, tê dại yếu chân tay, ngứa ngoài da, chứng kinh phong, sài uốn ván.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Nọc rắn xử lý hết độc có tác dụng:

  1. Chống đông, chống hình thành huyết khối, giảm fibrinogene, độ dính của máu, độ ngưng tập của tiểu cầu.
  2. Tác dụng giảm đau rõ: Nọc độc rắn với liều 0,188mg/kg có tác dụng giảm đau đối với chuột đồng gấp 3 - 4 lần Morphin với liều 1mg/kg mà không gây nghiện. Có thể dùng trị các loại đau thần kinh, đau ung thư.
  3. Có tác dụng chống ung thư.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng phong thấp, gân cơ co rút, chân tay tê dại, đau nhức lâu ngày, hoặc liệt chân tay dùng:

2.Trị chứng kinh phong trẻ em và uốn ván:

3.Trị ghẻ ngứa, phong chẩn:

4.Ngoài ra nhiều tác giả Trung quốc: đã dùng nọc rắn chế thành nhiều chế phẩm men chống máu cục có tác dụng chống đông máu, làm hạ mở máu, hạ áp, giãn mạch để trị các chứng viêm tĩnh mạch, viêm tắc động tĩnh mạch có kết quả (Dược học thông báo 1988,1:45) hoặc chế thành dịch chích, dịch chuyền với dung dịch natri đẳng trương. Trị bệnh mạch vành có kết quả (Báo Y dược Hà bắc 1988,2:45).

Liều thường dùng và chú ý: