NGŨ LINH CHI

(Faeces Trogopterum)

Ngũ linh Chi là phân khô của một loài sóc Trogopterus xanthipes Milne- Edwards thuộc họ Sóc bay (Petauristidae), có nhiều ở Trung quốc tại các tỉnh Hà bắc, Sơn tây, Cam túc, chưa thấy có ở nước ta.

Ngũ linh chi dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Khai báo bản thảo.

Tính vị qui kinh:

Tính ôn vị đắng ngọt, qui kinh Can.

Theo các y văn cổ:

Thành phần chủ yếu:

Trong Ngũ linh Chi có nhiều chất nhựa, urê, acid uric và vitamin A.

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền:

Thuốc có tác dụng: hoạt huyết chỉ thống, hóa ứ cầm máu, giải độc. Chủ trị các chứng: đau kinh, bế kinh, đau bụng sau sanh, ngực bụng đau, băng lậu, rắn cắn, trùng thú cắn.

Trích đọan Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn lao, nước thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da, làm dịu co thắt của cơ trơn.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị đau do viêm lóet dạ dày hành tá tràng:

2.Trị cơn đau thắt ngực do khí trệ huyết ứ:

3.Trị viêm gan virut: dùng Nhân trần, Thất tiêu tán ( Nhân trần, Ngũ linh chi, Sao Bồ hoàng) trị 200 ca ( cấp 136 ca, mạn 64) trị khỏi 140 ca, tốt 50 ca, không kết quả 10 ca ( Tạp chí Trung y Hồ bắc 1985,5:17).

4.Trị vô sinh do nội mạc tử cung tăng sinh: dùng bài Thất tiêu tán gia vị trị bệnh thu kết quả tốt ( Tạp chí Trung y Triết giang 1985,9(4):24).

Liều dùng và chú ý: