NGŨ GIA BÌ

(Cortex Acanthopanacis Radicis)

Ngũ gia bì làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh còn có tên là Xuyên Gia bì, Thích gia bì, Nam gia bì là vỏ rễ phơi khô của cây Ngũ gia bì (Acanthopanax gracilistylus W. W Smith và Thích gia bì A.senticosus (Rupr et Maxim) Harms và nhiều loại Ngũ gia bì khác như :Ngũ gia cành ngắn (Acanthopanax sessiliforus (Rupr et Maxim) Seem; Hồng mao ngũ gia A.Leucorrhizus Harms.

Tính vị qui kinh:

Vị cay đắng, tính ôn, qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Có nhiều Glucosid. Từ rễ chiết xuất ra 5 loại glucosid Thích Ngũ gia A, B, C, D, E từ lá chiết xuất ra glucosid lá Ngũ gia I,K,M. Ngoài ra còn có 4-Methyl salicyladehyde, palmitic acid, linoleic acid, tanin, polysaccharid, vitamin A,B1, các nguyên tố vi lượng Zn, Cu, Mn.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Trừ phong thấp, cường gân cốt (mạnh gân xương), tiêu phù.

Chủ trị các chứng tý, đau phong thấp, lưng gối mõi yếu, phù thũng, tiểu tiện ít.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu theo dược lý hiện đại (vị Thích Ngũ gia bì):

  1. Có tác dụng chống mệt mỏi tốt hơn Nhân sâm. Có tác dụng tăng sức chịu đựng đối với thiếu oxy, nhiệt độ cao, điều tiết nội tiết rối loạn, điều tiết hồng bạch cầu và huyết áp, chống phóng xạ, giải độc. Thuốc có tác dụng chống lão suy, tăng thể lực và trí lực, tăng chức năng tuyến sinh dục và quá trình đồng hóa, gia tăng quá trình chuyển hóa và xúc tiến tổ chức tái sinh.
  2. Có tác dụng an thần rõ, điều tiết sự cân bằng giữa 2 quá trình ức chế và hưng phấn của trung khu thần kinh. Tác dụng hưng phấn của thuốc không làm ảnh hưởng giấc ngủ bình thường.
  3. Có tác dụng tăng cường miễn dịch của cơ thể như tăng khả năng thực bào của hệ tế bào nội bì võng, tăng nhanh sự hình thành kháng thể, làm tăng trọng lượng của lách. Thuốc còn có tác dụng kháng virus, kháng tế bào ung thư, điều chỉnh miễn dịch.
  4. Thuốc có tác dụng kháng viêm, cả đối với viêm cấp và mạn tính.
  5. Thuốc có tác dụng giãn mạch làm tăng lưu lượng máu động mạch vành và hạ huyết áp.
  6. Thuốc có long đờm, cầm ho và làm giảm cơn ho suyễn.
  7. Thuốc có tác dụng chống ung thư.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng đau thấp, đau nhức cơ khớp mình mẩy, mỏi mệt:

2.Trị cơ thể suy nhược, trẻ em chậm biết đi, đàn ông liệt dương:

3.Trị đau thắt ngực, mỡ máu cao: dùng chất chiết xuất Thích Ngũ gia bì (Nam Ngũ gia bì chế thành thuốc nang "Quan tâm ninh" uống mỗi lần 3 nang, ngày 3 lần, liên tục trong 1 - 3 tháng. Trị 132 ca bệnh nhân đau thắt ngực, có kết quả 95,45%, cao huyết áp 53 ca có kết quả làm hạ cholesterol và triglycerit (Tờ Tin tức Trung y dược 1987,4:36).

4.Trị chứng bạch cầu giảm: dùng Thích Ngũ gia bì trị 43 ca Bạch cầu giảm do hóa liệu kết quả tốt hơn cả (Học báo Quảng tây Y học viện 1978,3:1). Dùng viên Ngũ gia bì trị 22 ca, 19 ca có kết quả ( Tạp chí Trung y Hồ bắc 1982,6:52).

5.Trị nhồi máu não: dùng dịch chích Ngũ gia bì 40ml cho vào dịch gluco 10% - 300ml truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, uống thêm thuốc thang, theo dõi 20 ca kết quả tốt (Học báo Trung y học viện Cam túc 1988,1:27).

6.Trị huyết áp thấp: dùng viên Ngũ gia bì mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày là một liệu trình có kết quả tốt (Báo cáo của Châu Long - tờ Nghiên cứu thuốc thành phẩm Trung quốc 1985,12:43).

Liều dùng và chú ý: