NGỌC TRÚC

( Rhizoma Polygonati Odorati)

Ngọc trúc dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên Nữ ủy, là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Ngọc trúc( Polygonatum officinale All.) hay ( Polygonatum odoratum (Mill.) Druce).

Vì lá giống lá trúc, thân rễ bóng nhaün trông như ngọc nên có tên Ngọc trúc, họ Hành tỏi ( Liliaceae).

Cây này mọc nhiều ở các tỉnh Quảng đông, Quảng tây, Vân nam Trung quốc nên tại các tỉnh biên giới của ta có thể có, nhưng ta chưa khai thác.

Tính vị qui kinh:

Vị ngọt, tính bình, qui kinh Phế vị.

Theo Y văn cổ:

Thành phần chủ yếu:

Conballamarin, convallarin, quercitol, vitamin A.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Tư âm nhuận phế, sinh tân dưỡng vị. Chủ trị chứng ho lao phế táo, vị âm hư, âm hư ngoại cảm, chứng tiêu khát.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu Dược lý hiện đại:

  1. Nước thuốc sắc, chiết xuất cồn liều nhỏ đối với tim cô lập ếch có tác dụng cường tim, dùng với Hoàng kỳ, có tác dụng cải thiện điện tâm đồ thiếu máu cơ tim.
  2. Thuốc có tác dụng hạ lipid huyết, làm chậm lại sự hình thành xơ cứng động mạch, tăng cường khả năng chịu đựng trạng thái thiếu oxy của cơ tim.
  3. Thuốc có tác dụng ức chế tăng đường huyết đối với chuột cống thí nghiệm.
  4. Thuốc có tác dụng nhuận tràng.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị bệnh mạch vành, đau thắt ngực: phối hợp với Đảng sâm chế thành bài:

2.Trị bệnh thấp tim: thuốc có tác dụng cường tim, tư dưỡng khí huyết, thường phối hợp với Kỷ tử, Long nhãn nhục, Mạch đông, Sinh khương, Đại táo. Nếu huyết áp thấp gia Chích thảo, trường hợp suy tuần hoàn phải gia Phụ tử, Quế nhục, trường hợp mạch nhanh huyết áp hơi cao, cần thận trọng lúc dùng.

3.Trị chứng ngoại cảm ( có triệu chứng ho, phế táo) ở bệnh nhân vốn âm hư: dùng bài:

4.Trị viêm phế quản lâu ngày, lao phổi, ho do phế táo: dùng Ngọc trúc nhuận phế cùng kết hợp với Mạch môn, Sa sâm, Thạch hộc.

Liều lượng và cách dùng: