MỘC QUA

(Fructus Chaenomelis Lagenariae)

Mộc qua là quả chín phơi hay sấy khô của cây Mộc qua (Chaenomeles lagenaria (Loisel.) . Ở Trung quốc có khi dùng quả của cây Quang bì Mộc qua (C.sinensis (Thouin) Koehne.

Mộc qua dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục. Ta còn phải nhập thuốc này của Trung quốc.

Tính vị qui kinh:

Tính vị chua ôn, qui kinh Can tỳ.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Saponin, Fructose, citric acid, flavone, tartric acid, tanin.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Thư cân hoạt lạc hóa thấp hòa vị.

Chủ trị các chứng phong thấp tý thống, cân mạch co rút, cước khí sưng đau, thổ tả co rút chân tay.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng bảo vệ gan, làm hạ men SGOT, SGPT. Nước sắc Mộc qua có tác dụng tiêu sưng rõ trên mô hình viêm khớp chuột nhắt do chích protein (tác dụng kháng viêm).

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng tê thấp cước khí, hoặc do chấn thương đau cẳng chân:

2.Trị viêm ruột cấp nôn mửa, cẳng chân co giật, ngực đầy tức, dùng bài:

3.Trị viêm gan cấp vàng da: Mộc qua chế thành dạng trà hãm nước sôi uống. Mỗi lần 1 - 2 gói, ( mỗi gói có 5g thuốc sống tương đương), ngày 3 lần. Đặng trí Mẫn trị 70 ca kết quả tốt ( Tạp chí Trung y dược Phúc kiến 1987,2:14).

4.Trị lî trực khuẩn cấp: Mộc qua chế thành thuốc viên, mỗi lần uống 5 viên ( mỗi viên 0,25 tương đương thuốc sống 1,13g), ngày 3 lần, một liệu trình 5 - 7 ngày. Quách Thành Lập và cộng sự đã dùng trị 107 ca, tỷ lệ khỏi 85,8%, tỷ lệ có kết quả 96,28% ( Tạp chí Y học Trung hoa 1984,11:689).

Liều dùng và chú ý: