MỘC HƯƠNG

( Radix saussureae lappae)

Mộc hương là rễ phơi hay sấy khô của cây Mộc hương, dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Cây Mộc hương có nhiều loại, sách Trung dược học ( Trung quốc) nêu 2 loại: Vân mộc hương Saussurea lappa mọc ở vùng Lệ giang tỉnh Vân nam ( nên có tên Vân mộc hương) và Xuyên mộc hương Viadiminia souliei (Franch) Ling. Còn loại trồng ở Ấn độ, Miến điện thì sách thuốc Trung quốc gọi là Quảng mộc hương. Sách của Đỗ tất Lợi có giới thiệu thêm cây Thổ mộc hương Inula helenium L. đều thuộc họ Cúc. Theo Đỗ tất Lợi, hiện ta đã di thực được 2 loại Quảng mộc hương và Thổ mộc hương.

Tính vị qui kinh:

Vị đắng , cay, tính ôn. Qui kinh Tỳ, Vị, Đại tràng, Đởm.

Theo các sách cổ:

Thành phần chủ yếu:

Vân mộc hương và Quảng mộc hương có chừng 1 - 2,8% tinh dầu, 6% chất nhựa Saussurin (Ancaloit) và chừng 18% chất Inulin. Thành phần chủ yếu trong tinh dầu có: Aplotaxene, Anpha-Ionone, Beta-seline, Saussurea-lactone, Costunolide, Costic acid, Anpha-costene, Costuslactone, Camphene, Phellandrene, Dehydrocostuslactone, Stigmasterol, Betulin.

Tác dụng dược lý:

1.Theo Y học cổ truyền:

Mộc hương có tác dụng điều trung hành khí chỉ thống. Chủ trị các chứng tỳ vị khí trệ, tả lî do tích trệ, lý cấp hầu trọng, tỳ rối loạn vận hóa, mất chức năng sơ tiết tỳ vị khí hư.

Trích đoạn Y văn cổ:

2.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị rối loạn tiêu hóa: bụng đầy đau, sôi bụng ( do trúng hàn khí trệ).

2.Trị chứng tả lî bụng đau, lý cấp hậu trọng ( do khí trệ ở đại trường):

Mã văn Quang dùng dịch Mộc hương 100% chích bắp, 2ml/lần, ngày 2 lần. Trị rối loạn tiêu hóa, viêm ruột cấp, viêm bao tử mạn 29 ca đạt tỷ lệ kết quả 93% ( Thông tin Trung thảo dược 1979, 3:37).

3.Trị cơn đau thắt túi mật: Hoàng dục Quang dùng thuốc trị 8 ca kết quả đều tốt ( Tạp chí Ngoịa khoa Trung hoa 1958, 1:24).

Liều dùng và chú ý: