MẬT LỢN

( Fel suillum)

Mật lợn dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục là chất lỏng lấy trong túi mật của Lợn, tên động vật Sus scrofa domestica Brisson, họ Lợn (Suidae). Ở nước ta đâu cũng có nuôi lợn, nếu cần lấy làm thuốc đặt mua tại các lò mổ lợn.

Cách chế: Lấy túi mật heo treo lên cho hơi khô ép dẹt rồi phơi hay sấy khô. Lấy nước mật tươi sấy khô gia thêm bằng bột gạo, glucose hoặc lactose.

Theo sách Dược liệu Việt nam: tập trung mật ở các túi lại, lọc, cô cách thủy thành cao hay bột hoặc cho tủa với dung dịch phèn chua bảo hòa, lọc lấy tủa, đem sấy ở nhiệt độ dưới 70 độ C cho tới khô, tán bột. Bảo quản: đựng trong lọ kín để nơi khô mát.

Tính vị qui kinh:

Mật lợn vị đắng, tính hàn, qui kinh Can, Đởm, Phế, Đại tràng.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Các muối cholat như: hyodesoxycholat, glycocholat, glycodesoxycholat taurocholat, taurodesoxycholat cholesterol, một số sắc tố mật như bilirubine, chất béo và chất hữu cơ.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Mật lợn có tác dụng thanh phế hóa đàm, thanh nhiệt giải độc.

Chủ trị các chứng: ho do phế nhiệt, ho gà (bách nhật khái), mắt đỏ sưng đau, hoàng đản, kiết lî, nhọt độc sưng lở, táo bón nhiệt.

Trích đọan Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Mật heo có nhiều thành phần có tác dụng giảm ho, trị suyễn long đàm. Trên phổi cô lập của chuột lang, natri cholat làm giãn cơ trơn tiểu phế quản.
  2. Thuốc có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và giải độc.
  3. Thuốc có tác dụng hạ áp.
  4. Thuốc có tác dụng lợi mật, tiêu sỏi, kích thích tiết mật, cùng với dịch tụy tiêu hóa chất mỡ và tăng sự hấp thu các sinh tố hòa tan trong mỡ.
  5. Thuốc có tác dụng ức chế đối với liên cầu khuẩn, tụ cầu vàng, phế cầu khuẩn, trực khuẩn cúm, trực khuẩn ho gà (in vitro).

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị viêm phế quản mạn tính:

2.Trị ho gà:

Liều 1 lần: + Trẻ em dưới 1 tuổi: thìa cà phê.

+ Trẻ em 1 - 2 tuổi : 1 thìa cà phê.

+ Trẻ em 2 - 3 tuổi : 1 thìa cà phê.

+ Trẻ em > 3 tuổi : 2 thìa cà phê.

Liều 1 lần: + Trẻ em dưới 1 tuổi: 1 viên.

+ Trẻ em 1 - 2 tuổi : 2 viên.

+ Trẻ em 2 - 3 tuổi : 3 viên.

+ Trẻ em > 3 tuổi : 5 viên.

3.Trị viêm tai giữa có mủ:

4.Trị viêm âm đạo do trùng roi:

5.Trị viêm cổ tử cung mạn tính:

Trước hết dùng nước lá Đào, rửa khí hư rồi cho thuốc ( viên mật số 1).

Viên mật số 1 dùng cho lúc viêm nhiều. Viên số 2 dùng lúc lên da non.

Trị 400 ca kết quả khỏi 65,75%, có kết quả 100% (Sài Lợi Sách, Tạp chí Trung y Vân nam 1986,6:12).

6.Trị táo bón:

Mật lợn sấy khô tán bột, trộn với tá dược làm thành viên, mỗi viên nặng 0,1g. Người lớn ngày uống 6 - 12 viên chia làm 2 lần, uống vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc sáng sớm. Nếu táo bón nhiều có thể tăng liều.

Liều dùng và chú ý:

Trên lâm sàng dùng mật dê trị lao phổi; mật rắn trị ho suyễn, đau mắt, đau phong thấp; mật gà trị ho gà.

Thực nghiệm đã chứng minh là có tác dụng nhất định. Nhưng mật cá có độc như Thanh ngư, Thảo ngư không nên dùng vì dễ trúng độc (đã có báo cáo) có thể nguy hiểm.