KHƯƠNG HOÀNG

( Rhizoma Curcumae )

Khương hoàng dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Tân tu bản thảo là thân rễ cây Nghệ (Rhizoma curcumae longae). Còn có tên trong sách là Phiến khương hoàng.

Tính vị qui kinh:

Vị cay đắng, tính ôn. Qui kinh Can Tỳ.

Theo Y văn cổ:

Thành phần chủ yếu:

Chất Khương hoàng tố ( chất màu curcumin 0,3%)

Tinh dầu 1 - 5% là hoạt chất của Nghệ gồm 25% cacbua tecpenic, chủ yếu là zingiberen và 65% cetonsesquitecpenic, các chất turmeron. Các chất màu vàng gọi chung là curcumin gồm có curcumin I, II, .

Ngoài ra còn có tinh bột, canxi oxalat, chất béo.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Khương hoàng có tác dụng phá huyết hành khí, thông kinh chỉ thống. Chủ trị chứng sườn đau, kinh bế, bụng đau, phong thấp, sang ung.

Theo các Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

1.Chất Curcumin có tinh thông mật ( gây co bóp túi mật, chất curcumen có tác dụng phá cholesterol trong máu).

2.Toàn tinh dầu dù pha loãng cũng có tác dụng diệt nấm sát khuẩn.

3.Khương hoàng có tác dụng giảm mỡ tromg máu và chống đau thắt tim, ức chế sự ngưng tập tiểu cầu. Thuốc có tác dụng tiêu viêm như cocticoit đối với mô hình gây phù chân của chuột lớn và chuột nhắt.

4.Khương hoàng sắc nước chích ổ bụng cho chuột có thai vào nhiều thời kỳ và cho thỏ mới có thai đều có tác dụng gây sẩy thai.

5.Ngoài ra thuốc còn có tác dụng hưng phấn tử cung, lợi mật.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng kinh nguyệt không đều, đau bụng vùng rốn:

2.Trị sau sanh đau bụng do huyết ứ:

3.Trị xơ gan:

4.Trị đau bao tử ( do lóet dạ dày tá tràng):

5.Trị mụn nhọt:

Liều thường dùng:

Dùng trong thang thuốc sắc 3 - 10g, dùng ngoài liều lượng tùy theo bệnh lý.