KHỒ LUYỆN CĂN BÌ

(Cortex Meliae Radicis)

Khổ luyện căn bì dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục là vỏ thân hay vỏ rễ cây Sầu đâu (cũng gọi là cây Xoan tên thực vật là Melia Azedarach L. hay M. toosendan Sieb et Zucc).

Cây Xoan mọc hoang hoặc được trồng khắp nơi trong nước ta. Khi làm thuốc nên chọn những cây đến tuổi khai thác gỗ ( 6 - 7 năm tuổi). Vỏ phơi hay sấy khô, khi dùng sao lên hơi vàng hết mùi hăng là được. Vỏ thân và vỏ rễ đều dùng được nhưng rễ mạnh hơn.

Tính vị qui kinh:

Vỏ Xoan vị đắng tính hàn, qui kinh Tỳ Vị Can. Thuốc có độc.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Toosendanin, nimbolin A, nimbolin B, fraxinellone, geduninkulinone, kulactone, meliantriol, resin, tannin.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Khổ luyện căn bì có tác dụng: sát trùng, liệu tiên (diệt lãi, trị ghẻ lở).

Chủ trị các chứng lãi đũa, lãi kim, lãi móc, chốc đầu, ghẻ lở.

Trích đọan Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Xuyên luyện tố Toosendanin là thành phần chủ yếu diệt giun đũa, tác dụng chậm hơn nhưng kéo dài hơn Santonin. Nước sắc vỏ Xoan đậm (25 - 50%), in vitro có tác dụng làm tê liệt giun kim ở chuột. Vì thuốc có tác dụng ức chế một số nấm ngoài da.
  2. Xuyên luyện tố có tác dụng điều trị rõ rệt đối với súc vật thí nghiệm bị nhiễm độc thịt độc ( độc tố thịt độc là loại độc tố mạnh nhất).
  3. LD 50 của Xuyên luyện bì đối với chuột nhắt là 1 lần bơm thuốc vào bao tử là 2194mg/kg thấp hơn Santonin khoảng 3,26 lần. Vỏ ngoài của Vỏ Xoan rất độc nên lúc dùng phải cạo sạch. Khổ luyện tử có thể ức chế trung khu hô hấp, không nên dùng hoặc phải rất thận trọng lúc dùng cho những bệnh nhân suy gan, suy tim, lóet dạ dày, cơ thể suy nhược nặng.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị lãi đũa: dùng nước sắc cô đặc vỏ xoan 50%, mỗi lần uống 4 0 - 60ml, hoặc viên thuốc ( mỗi viên có 0,45g thuốc cao), mỗi lần uống 4 - 8 viên liên tục 2 - 3 ngày uống trước lúc ngủ và sáng sớm hôm sau lúc ngủ dậy. Đã theo dõi 4757 ca, tỷ lệ ra lãi 93,65, nhưng sau khi uống thuốc xuất hiện tác dụng phụ 35,2%, chủ yếu là: đau đầu, váng đầu, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, mắt mờ, mệt mỏi, chân tay tê ( Bì Thụy Hòa, Tạp chí Nội khoa Trung hoa 1962, 8:491).

Một báo cáo khác của Vương ấm Bích: Sở nghiên cứu Trung dược Tứ xuyên chế thử 3 loại thuốc Xuyên luyện viên: Viên thô (bỏ một phần tạp chất) 0,3/viên; Viên bán tinh (bỏ phần lớn tạp chất), mỗi viên 0,1g; Viên tinh 0,025/viên, người lớn mỗi lần uống 6 - 8 viên, uống trước lúc ngủ hoặc 2 lần trước lúc ngủ và sau lúc thức dậy. Trị 4374 ca, kết quả ra lãi 73,79% ( trung y tạp chí 1959,4:46).

Cách chế và dùng thuốc theo sách của GS Đỗ tất Lợi:

Uống vào lúc sáng sớm lúc đói, nhịn ăn tới trưa thì ăn bình thường. Thuốc trị được giun kim.

2.Trị lãi kim:

3.Trị giun móc:

4.Trị trùng roi âm đạo:

Dùng nước sắc vỏ rễ xoan (vỏ rễ xoan tươi 200g cho vào 1000 - 1500ml nước đun sôi 20 phút, lọc), bơm vào âm đạo 5 ml và nhét thêm 1 miếng gạc tẩm thuốc sắc, hôm sau lấy ra, 5 - 10 lần là 1 liệu trình. Trị 27 ca và dùng thuốc đạn ( thuốc được tinh luyện gia thêm glycerine minh dao chế thành) mỗi viên 3 - 5g, trước lúc ngủ đặt vào âm đạo, các ngày 1 lần, dùng 5 lần, kết quả tốt ( Nghiêm gia Tường, Tạp chí Phụ sản khoa Trung hoa 1959,3:193).

Liều dùng và chú ý:

Toàn bộ cây Xoan là có độc, quả là độc nhất, lá độc nhẹ nhất. Aên 6 - 8 quả là có thể ngộ độc gây đau đầu, váng đầu, nôn, tiêu chảy, khó thở, tim đập nhanh, run giật, ăn nhiều sẽ tê mê, nặng mất hết cảm giác và tử vong.

Cách xử trí cấp cứu: Lúc chưa co giật: cho uống thuốc gây nôn, thụt rửa dạ dày, lúc cần gây tiêu chảy, uống lòng trắng trứng gà hoặc bột mì, than hoạt, uống nước đường cam thảo, chích glucoza. Lúc co giật phải dùng thuốc chống co giật.

Phụ chú:

  1. Lá Xoan non hơ lửa cho mềm giã lấy nước đắp trị bệnh Bạch điến phong.
  2. Quả Xoan non gọi là Luyện tử cũng gọi là Kim linh tử: vị đắng, tính hàn, có độc, qui kinh Can. Có tác dụng lợi thấp nhiệt, chỉ thống, sát trùng. Trị Vị quản nhiệt thống, thấp nhiệt sán thống, trùng tích phúc thống như: