KHOẢN ĐÔNG HOA

(Flos Tussilagi Farfarae)

Khoản đông hoa dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh là hoa phơi hay sấy khô của cây Khoản đông, có tên thực vật là Tussilago farfra L. thuộc họa Cúc. Cây Khoản đông mọc ở các tỉnh Hà nam, Cam túc, Sơn tây và Tứ xuyên Trung quốc. Nước ta chưa có cây này, còn nhập của Trung quốc.

Vào tháng 12 mỗi năm hái hoa về rửa sạch phơi râm, để sống hoặc chích mật dùng.

Tính vị qui kinh:

Khoản đông hoa vị cay, tính ôn, qui kinh Phế.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Faradiol, rutin, hyperin, triterpenoid, saponin, taraxanthin, tanin. Gần đây phát hiện 1 loại ancaloid.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Khoản đông hoa có tác dụng nhuận phế giáng khí, chỉ khái hóa đàm.

Chủ trị chứng: ho do phế hàn, phế nhiệt, phế hư lao.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Thuốc sắc làm tăng tiết đường hô hấp, làm giảm ho rõ. Còn có tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh, hưng phấn hô hấp. Thuốc có tác dụng hạ cơn suyễn trên súc vật thí nghiệm. Trên mô hình cô lập súc vật thí nghiệm, liều nhỏ thuốc truyền dịch gây giãn phế quản, liều lớn ngược lại gây co thắt phế quản.
  2. Thuốc gây co thắt mạch, làm tăng huyết áp, gây tăng áp do hưng phấn trung khu vận mạch.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị hen suyễn: dùng rượu thuốc, mỗi lần uống 5ml (tương đương 6g thuốc sống) ngày 3 lần. Theo dõi 36 ca có kết quả nhưng cơn nặng không kết quả (Đặng trường Vinh, Thượng hải, Trung y dược 1964,10:12).

2.Trị viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, lao phổi, âm hư ho khan:

Liều thường dùng và chú ý: