KHIÊN NGƯU TỬ

( Semen Pharbitidis)

Khiên ngưu tử còn gọi là Hắc bạch sửu, Nhị sửu, Bìm bìm biếc, Lạt bát hoa tử, là hạt phơi khô của cây Khiên ngưu hay Bìm bìm biếc. Tên thực vật có nhiều loại: Phabitis nil (L) choisy, Phabitis purpurea (L) Volgt hoặc Ipomoea hederacea Jacq ( Phabitis hederacea choisy).

Hạt trên mặt màu đen gọi là Hắc sửu, màu vàng gọi là Bạch sửu, tác dụng như nhau. Theo sách của Đỗ tất Lợi có tên Khiên ngưu và Khiên là dắt, Ngưu là trâu, người xưa có người dùng vị thuốc này khỏi bệnh, dắt trâu đến tạ ơn người mách thuốc.

Khiên ngưu thuộc họ Bìm bìm ( Convolvulceae) dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục.

Cây Bìm bìm biếc mọc hoang nhiều ở nước ta. Nhiều nước khác cũng có như Trung quốc, Aán độ, Indonesia, Thái lan, Nhật bản. Vào các tháng 7 - 10 hái quả chín về đập lấy hạt phơi khô làm thuốc.

Tính vị qui kinh:

Khiên ngưu tử vị đắng cay, tính hàn có độc, qui kinh Phế, Thận, Đại tràng.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Pharbitin ( có Pharbitic acid vài purolic acid), là chất glucosid có khoảng 2%, nilic acid, gallic acid, lysergol, chanoclavine, penniclavine, Isopenniclavine, elymoclavine.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Khiên ngưu tử có tác dụng: tả hạ lợi tiểu, tả phế khí trục đàm ẩm, tiêu tích thông tiện, trục trùng.

Chủ trị các chứng: phù thũng, bụng báng, ho suyễn do đàm thấp đầy ở phế, thực tích tiêu bón, sán lãi đũa.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Chất pharbitin vào ruột gặp mật và dịch ruột thủy phân thành Khiên ngưu tử tố kích thích ruột làm tăng nhu động gây tẩy xổ. Nước hoặc cồn chiết xuất Khiên ngưu đều có tác dụng gây tiêu chảy ở chuột nhắt, nhưng nước sắc thì không có tác dụng đó.
  2. Khiên ngưu tử làm tăng độ lọc inulin của thận.
  3. Khiên ngưu tử in vitro có tác dụng ức chế giun đũa.
  4. Độc tính của thuốc: đối với chuột, liều LD50 là 37,5kg. Ở người triệu chứng nôn buồn nôn do kích thích trực tiếp lên đường tiêu hóa, liều cao có thể ảnh hưởng đến thận dẫn đến huyết niệu cũng như triệu chứng thần kinh.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng phù thũng, bụng đầy, đại tiểu tiện ít:

2.Trị giun đũa, giun kim:

3.Trị tâm thần phân liệt: Đại hoàng, Hùng hoàng đều 12g, Hắc bạch sửu 24g, Kẹo Mạch nha 16g. Các vị tán bột viên thành viên 2g. Ngày uống 4 viên, 1 đợt 15 ngày liền nghỉ 7 ngày, rồi uống tiếp ( Y học thực hành 1968,154:27-29).

4.Trị động kinh: Khoa Thần kinh Bệnh viện Thủ đô Bắc kinh thuộc Viện Khoa học Y học Trung quốc dùng chiết xuất của Khiên ngưu tử làm thành viên hoặc hoàn. Trị 115 ca trong 3 tháng, tỷ lệ có kết quả 56,7%, hiệu quả trị bệnh của viên và hoàn là như nhau, đối với tất cả các thể bệnh đều có hiệu quả ( Tạp chí Nội khoa Trung hoa 1977,6:323).

Liều lượng thường dùng và chú ý: