HÙNG HOÀNG

( Realgar)

Hùng hoàng còn gọi là Minh hùng hoàng, Hùng tinh, Yêu hoàng dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh là Khoáng thạch có sulfur asen thiên nhiên có tên là Realgar. Hiện nay ta còn phải nhập Hùng hoàng của Trung quốc, Hùng hoàng được bán với dạng to nhỏ không đều, màu vàng cam hoặc hơi hồng.

Tính vị qui kinh:

Hùng hoàng vị cay đắng, tính ôn, có độc qui kinh Tâm Can Thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Sufur Thạch tín ( Arsenic sufide) (AsS hay As2S2) ngoài ra có các muối kim loại nặng.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Hùng hoàng có tác dụng: giải độc sát trùng, hóa ứ tiêu thủng, táo thấp khu đàm, triệt ngược định kinh. Chủ trị các chứng: ung thư, đinh nhọt ghẻ lở, trùng độc rắn cắn, giang mai ( mai độc), phong hủi, trùng tích bụng, bụng đau, hen suyễn, sốt rét, động kinh, uốn ván ( phá thương phong).

Trích đọan Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. In vitro, thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da với mức độ khác nhau, có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi trùng lao. Dùng bài thuốc có Ngãi diệp, Xương bồ, Hùng hoàng đốt xông khói trong 2 - 4 giờ có tác dụng giết các loại tụ cầu vàng, trực khuẩn biến dạng, trực khuẩn mủ xanh.
  2. Thuốc có tác dụng kháng hấp huyết trùng ( schistosoma) và nguyên trùng sốt rét.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị loét của bệnh ung thư hắc sắc tố ( melanoblastoma):

2.Trị sốt rét khó khỏi: Bột Hùng hoàng 0,3g, Lục nhất tán 2g, trộn đều chia làm 2 bao. Uống 1 bao trước lúc lên cơn 2 giờ, 4 - 6 giờ sau uống 21 bao. Trị 29 ca đều uống 1 lần khỏi ( Vương Nãi Sơn, Báo nghiên cứu thành phẩm Trung dược 1982,7:46).

3.Trị lãi kim: Hùng hoàng 6g, Sử quân tử 6g, Bột Cam thảo, Khổ Hạnh nhân, Uất kim đều 3g, Ba đậu sương 2g, đều tán bột mịn, cho lượng mật ong vừa đủ chế thành viên.

-Từ 6 tháng đến 1 tuổi: uống 2 viên.

-Từ 1 - 2 tuổi: uống 4 viên.

-Từ 2 - 3 tuổi: uống 6 viên.

-Cứ theo tuổi mà uống vào lức sáng sớm lúc bụng đói 1 lần, ngày thứ 6 uống 2 lần, thường 2 liệu trình là khỏi. Đã trị 240 ca, khỏi 203 ca, tốt 31 ca, không thay đổi rõ 4 ca. Tỷ lệ kết quả 97,40% (Thường Ngọc Đường, Báo Trung y Hà bắc 1988,5:17).

4.Trị kiết lî: Hùng hoàng, Đại hoàng, Hoàng bá đều 3g, tán bột trộn nước làm hoàn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1,5g. Tác giả trị hơn 10 ca đã qua thời kỳ cấp vẫn còn tiêu ra máu mũi, uống Tetracyclin không kết quả, uống thuốc này 10 ngày toàn bộ hết bệnh ( Lý Hoán, Sách nói qua về thuốc Khoáng vật, trang 252, Nhà xuất bản KHKT Sơn đông xuất bản 1981).

5.Trị viêm amydale cấp: Hùng hoàng cầm, Hoàng bá, Cát cánh, Cam thảo đều 150g, tán bột luyện mật làm hoàn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g. Trị 53 ca có 42 ca chỉ dùng thuốc trên đều trong 3 - 5 ngày khỏi ( Lý Hoán).

6.Trị lao hang: Hùng hoàng, Lưu hoàng đều 120 ca gia nước mật bò chế thành hoàn. Mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 0,3g. Trị 9 ca, khỏi 6 ca, 2 ca không kết quả, 1 ca tử vong vì bệnh nặng.

7.Trị ghẻ lở ngoài da, ngứa:

8.Trị đinh nhọt độc, thấp chẩn:

9.Trị trẻ em động kinh đàm rãi ủng tắc:

10.Trị lông mày rụng: Hùng hoàn tán nhỏ hòa dấm bôi vào.

11.Trị tai chảy mủ: Hùng hoàn, Thư hoàng, Lưu hoàng đều 4g, tán bột nhỏ mịn thổi vào tai.

12.Trị rắn rết cắn: Bôi bột Hùng hoàng vào vết cắn.

Liều lượng thường dùng và chú ý: