HÀ THỦ Ô

( Radix polygoni Multi flori)

Hà thủ ô dùng làm thuốc bổ huyết là Hà thủ ô đỏ, còn gọi là Chế thủ ô. Thủ ô là rễ phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ ( Polygonum multiflorum thunb) thuộc họ Rau răm ( Polygonaceae). Chế Hà thủ ô là Hà thủ ô là Hà thủ ô chế với Đậu đen ( 9 lần đồ, 9 lần phơi) cho Hà thủ ô thành màu đen có tác dụng bổ huyết tốt.

Tính vị qui kinh:

  1. Về tính vị:

Vị đắng, ngọt, sáp, hơi ôn, qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

  1. Về qui kinh:

Thành phần chủ yếu:

Chrysophanic acid, emodin, rhein, chrysophanic acid, anthrone, lecithin.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Bổ ích tinh huyết ( Chế thủ ô), dùng sống có tác dụng giải độc, triệt ngược, nhuận tràng, thông tiện, tư âm cường tráng. Chủ trị tinh huyết hư, sốt rét lâu ngày, ung sang độc, chứng loa lịch, chứng táo bón.

Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu Dược lý hiện đại:

  1. Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol ( Tư liệu tham khảo Tân y học 5 - 6, 1972). Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch. Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin ( Tư liệu tham khảo Tân y học 5 - 6, 1972).
  2. Thuốc làm chậm nhịp tim. Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu.
  3. Thuốc có khả năng nâng cao sức chống lạnh của chuột nhắt. Hà thủ ô trắng có tác dụng tăng cường miễn dịch.
  4. Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có ý nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm.
  5. Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột ( Trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược - Nhà xuất bản Khoa học xuất bản 1965, trang 345 - 346). Hà thủ ô sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn Hà thủ ô chín.
  6. Tác dụng kháng khuẩn và virus: thuốc có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lao ở người và trực khuẩn lî Flexner. Thuốc có tác dụng ức chế virus cúm ( Học báo Vi sinh vật 8,164, 1960).
  7. Glucozit Hà thủ ô trắng có tác dụng ức chế tế bào ung thư.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng huyết hư, cơ thể suy nhược: có triệu chứng lưng gối mỏi nhức, váng đầu, hoa mắt, tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng nhiều, dùng bài:

2.Trị lipid huyết cao, xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh động mạch vành: có tác dụng làm giảm hoặc hết triệu chứng, ổn định bệnh, làm tăng sức, thường kết hợp với Ngân hạnh diệp, Câu đằng. Có công trình nghiên cứu dùng viên Hà thủ ô ( mỗi viên nặng 0,25g gồm thuốc sống 0,81 trong đó 30% bột Hà thủ ô, 70% cao nước chế thành), mỗi lần uống 5 - 6 viên ( có người uống 8 - 10 viên), ngày 3 lần, dùng thuốc liên tục trong 2 - 12 tuần, lâu nhất 14 tháng. Trị 178 ca cholesterol huyết thanh cao, kết quả tốt 38,2%, tiến bộ 23,6%, tỷ lệ kết quả 61,8% cholesterol huyết thanh giảm bình quân 39mg% trong đó 32% bệnh nhân giảm xuống mức bình thường, đối với bệnh nhân vừa và cao, kết quả tốt ( Bệnh viện Nhân dân Thượng hải số 3 trực thuộc Y học viện điều trị trị bằng viên Hà thủ ô, Báo Công nghiệp Y dược 1974,6:1).

Trị huyết áp cao, dùng bài Hà thủ ô hợp tể: Chế Hà thủ ô, Sinh địa, Huyền sâm, Sinh Bạch thược, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sa uyển tật lê, Hy thiêm thảo, Tang ký sinh, Hoài Ngưu tất, mỗi thứ 12g, sắc nước uống.

3.Trị sốt rét lâu ngày, thương âm khó lành: dùng bài:

4.Trị táo bón: trị táo bón do huyết hư, tân dịch hao tổn, dùng Tứ thạch, Đơn thạch, Đơn sâm, Ngũ vị tử, Toan táo nhân, Xuyên khung ( lượng nhỏ), có kết quả. Có tác giả dùng dịch tiêm Hà thủ ô 20% tiêm bắp mỗi lần 4ml, ngày 1 lần, 20 - 30 ngày là một liệu trình; trường hợp nặng chích 1 ngày 2 lần, cách nhật, liệu trình 15 - 20 ngày, nghỉ 15 - 20 ngày, ngủ khá hơn thì 9 ngày 1 lần hoặc uống Hà thủ ô mỗi lần 5 - 7 viên ( 0,5g/viên), ngày 3 lần, trường hợp uống lâu dài, ngày 2 lần sáng tối. Trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh giảm, mỗi tối uống 6 - 10 viên trước lúc ngủ. Uống và chích thay đổi dùng. Đã trị 141 ca, khỏi lâm sàng 53,9%, tiến bộ ngủ tốt 44,7%, tỷ lệ có kết quả 98,6%, theo tác giả tốt hơn loại thuốc ngủ Bromure và Meprobamate ( Bệnh viện 201 Giải phóng quân, Phân tích lâm sàng 141 ca mất ngủ bằng Hà thủ ô, Thông tin Trung thảo dược 1974,5:38).

6.Trị ho gà: dùng Hà thủ ô 6 - 12g, Cam thảo 1,5 - 3g, mỗi ngày 1 thang sắc, chia 4 - 6 lần uống, có người uống xong tiêu chảy nhẹ, dùng Kha tử hoặc Anh túc xác. Đã trị 35 ca khỏi 19 ca, cơ bản khỏi 8 ca, tiến bộ 4 ca, không kết quả 1 ca ( Vương Khởi Minh, Báo cáo về kết quả bước đầu điều trị ho gà bằng Hà thủ ô, Báo Trung y Giang tô 1965,3:10).

7.Trị sốt rét: Dùng Hà thủ ô 18 - 25g, Cam thảo 1,5 - 3g, trẻ em giảm lượng, sắc đặc sau 2 giờ, chia 3 lần uống trước bữa ăn. Trị 17 ca kết quả đều tốt ( Vương Khaởi Minh, Báo cáo 17 ca sốt rét điều trị bằng Hà thủ ô, Báo Y học Quảng Đông 1964,4:31).

8.Trị tóc bạc: Dùng Hà thủ ô chế, Thục địa hoàng mỗi thứ 30g, Đương qui 15g, ngâm vào 1000ml rượu trắng 10 - 15 ngày, sau cùng mỗi lần 15 - 30ml, uống liên tục cho đến khi kết quả. Điều trị 36 ca ( 20 ca bạc từng đám, 16 ca rải rác bệnh kéo dài từ 1 đến 10 năm, kết quả khỏi 24 ca, tiến bộ 8 ca, tỷ lệ kết quả 88,9% ( Triệu Hồng Bân, Rượu Hà thủ ô trị tóc bạc, Tạp chí Trung Y Sơn đông 1983,4:41).

9.Trị tổn thương thần kinh quay: dùng Hà thủ ô 30g sắc, chia uống sáng và chiều, liệu trình 1 tháng. Theo dõi 14 ca, tỷ lệ khỏi 86,7% ( Truyền Bằng Liêu, Báo cáo 14 ca tổn thương thần kinh quay trị bằng Hà thủ ô, Tạp chí Trung hoa Trung y cốt thương khoa 1988,1:34).

10.Ngoài ra còn có báo cáo dùng trị mề đay, lở nhọt, trị nốt ruồi, tinh trùng yếu.

11.Giới thiệu một số bài thuốc đơn giản có Hà thủ ô thường dùng trong nhân dân để bổ dưỡng đối với người suy nhược:

Liều dùng và chú ý lúc dùng:

  1. Trường hợp bổ ích tinh huyết dùng Chế thủ ô để giải độc, nhuận tràng. Trị sốt rét dùng Sinh thủ ô, tác dụng giải độc và nhuận tràng của Thủ ô càng mạnh hơn Sinh thủ ô.
  2. Chế thủ ô so với Thục địa: Thủ ô thiên về bổ can hư, Thục địa thiên về bổ thận hư. Thủ ô bổ nhưng không nê trệ như Thục địa. Theo kinh nghiệm lâm sàng thì nếu tâm huyết kém, não huyết kém dùng Thủ ô tốt, nếu là khí huyết suy nhược, tuần hoàn ngoại vi kém, chân tay lạnh thì dùng Thục địa tốt hơn.
  3. Không nên dùng chung với các loại thuốc khoáng chất như: Từ thạch, Đại giá thạch, không nấu chung trong các dụng cụ bằng sắt.

Phụ lục:

DẠ GIAO ĐẰNG

Dạ giao đằng là thân lá Hà thủ ô, vị ngọt hơi đắng, tính bình qui kinh Tâm và Can.

Công dụng: Dưỡng tâm, an thần, thông lạc khu phong.

Chủ trị: mất ngủ, tổn thương lao lực, ra nhiều mồ hôi, huyết hư, chân tay đau nhức, nấu nước rửa trị chứng lở, sang chẩn, ghẻ ngứa ngoài da.

Liều dùng: mỗi lần 15 - 30g thuốc sắc, nấu nước rửa, đắp ngoài, lượng không hạn chế.

HÀ THỦ Ô TRẮNG

Là một vị thuốc khác, là rễ cây Hà thủ ô trắng, còn gọi là Bạch Hà thủ ô, Nam Hà thủ ô, là rễ phơi khô của cây Nam Hà thủ ô ( Streptocaulon Juventas ( Lour) Merr, Apocynum Juventas Lour, Tylophora Juventas Woodf, thuộc họ Hoa Thiên lý ( Asclepiadaceae).

Tác dụng dược lý: chưa được nghiên cứu, thuốc có nhiều tinh bột và một chất phản ứng alcaloit có tinh thể chưa xác định.

Các Thầy thuốc Việt nam coi Hà thủ ô trắng có cùng công dụng như Hà thủ ô đỏ: làm cho người già trẻ lại, giúp cho sự giao hợp được bền lâu, tóc bạc hóa đen.

Theo sách Trung dược học: Bạch thủ ô có tác dụng kháng ung thư.