CẨU TÍCH

(Rhizoma Cibotii Barometz)

Còn gọi là Kim mao Cẩu tích, rễ lông Cu li là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Lông Cu li (Cibotium Barometz (L) J.Sm), thuộc họ Lông Cu li. Vị thuốc Cẩu tích được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Tính vị qui kinh:

Vị đắng, ngọt, ôn . Qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:

Có alkaloid Tục đoạn, ít tinh dầu, chất màu, vitamin E (sách của Đỗ tất Lợi gọi chất alkaloit trong Đỗ trọng là Lamin). Cũng theo sách này viết sơ bộ nghiên cứu Tục đoạn Việt nam thấy dịch chiết Tục đoạn có vị hơi ngọt, sau hơi tê lưỡi, có phản ứng acid với giấy quì, có phản ứng dương với các thuốc thử chung với alkaloit, phản ứng tanin cũng rõ rệt, có đường và có thể có saponin (Lê Anh 1961, Bộ môn Dược liệu).

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Bổ can thận, mạnh gân xương lưng gối, trừ phong thấp.

Trị chứng thận hư, đau lưng, cứng cột sống, tiểu tiện khó cầm, khí hư, bạch đới.

Theo các sách thuốc cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Lông Cu li có tác dụng cầm máu.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng can thận bất túc: Đau nhức sống ngang lưng, tiểu nhiều khó cầm, thuốc có tác dụng bổ can thận, dùng bài:

2.Trị chứng phong thấp hoặc hàn thấp chân tay tê đau: dùng các bài:

Liều thường dùng và chú ý: