BẮC SA SÂM

(Radix Glehniae Littoralis)

Còn gọi là Liêu Sa sâm, dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản thảo hội ngôn , là rễ của cây Bắc Sa sâm ( Glehnia Littoralis F. Schmidt ex Miq.) thuộc họ Hoa tán ( Umbelliferae).

Tính vị qui kinh:

Vị ngọt, tính hơi hàn, qui kinh: Phế, Vị.

Theo Y văn cổ:

Thành phần chủ yếu:

Alkaloids.

Tấc dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Dưỡng âm thanh phế, sinh tân ích vị. Chủ trị Phế táo âm hư, vị âm hư.

Trích đọan Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Cồn chiết xuất Sa sâm trên thỏ thực nghiệm có tác dụng hạ sốt.
  2. Trên súc vật thực nghiệm chứng minh thuốc có tác dụng hóa đàm nhẹ.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị lao phổi, viêm phế quản mạn tính, ho do phế táo: phối hợp với Mạch môn đông, Tang diệp, dùng bài Sa sâm Mạch môn đông ẩm ( Ôn bệnh điều biện): Sa sâm 12g, Mạch môn đông 9g, Ngọc trúc 12g, Sinh Biển đậu 8g, Tang diệp 8g, Hoa phấn 8g, Cam thảo 4g, sắc uống. Nếu ho lâu ngày gia Địa cốt bì 6g.

2.Trị bệnh viêm nhiễm thời kỳ hồi phục: có triệu chứng âm hư như: họng khô, mồm khát, tiêu bón, mạch nhược vô lực, thường phối hợp với Mạch môn, Sinh địa, dùng bài Ích vị thang ( Ôn bệnh điều biện):

3.Trị ngứa ngoài da: thường phối hợp với Mạch môn, Ngọc trúc.

Liều lượng và chú ý khi dùng: