BẠCH HOA XÀ THIỆT THẢO

(Herba Oldenlandiae Diffusae)

Bạch hoa xà thiệt thảo dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách " Quảng tây Trung dược chí" là toàn cây phơi hay sấy khô của cây Bạch hoa xà thiệt thảo (Oldenlandia diffusa (Willd) Roxb.).

Cây mọc chủ yếu ở các vùng thuộc các tỉnh phía Nam sông Trường giang Trung quốc.

Ở nước ta chưa có sách ghi chép về cây này.

Bạch hoa xà thiệt thảo còn có tên là Cây Xà thiệt thảo, Nhị diệp lục.

Tính vị qui kinh:

Vị hơi đắng, ngọt tính hàn.

Qui kinh Vị, Đại tràng, Tiểu tràng.

Theo sách: " Quảng tây Trung dược chí": Vị đắng, ngọt tính ôn, không độc, qui kinh Tâm Can Tỳ".

Thành phần chủ yếu:

Hentriaconotane, Stigmastatrienol, Ursolic acid, Oleanoic acid, beta - sitosterol, p - coumaric, beta - sitosterol - D - glucoside.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền: Thanh nhiệt giải độc tiêu ung kháng nham, lợi thấp. Chủ trị các chứng ung nhọt, sang độc, trường ung, yết hầu, sưng đau, rắn độc cắn, ung thư, nhiệt lâm, tiểu tiện khó.

B.Theo kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Tác dụng kháng khuẩn của thuốc in vitro không mạnh. Có tác dụng yếu đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn lî, dịch chích không có tác dụng ức chế vi khuẩn. Thuốc có hiệu quả rõ rệt đối với viêm ruột thừa thực nghiệm trên thỏ. Tác dụng kháng nhiễm có thể do thuốc có tác động lên hệ miễn dịch của cơ thể như làm tăng sinh hệ tế bào nội bì lưới, làm tăng hoạt lực của tế bào thực bào . tăng chức năng hệ miễn dịch không đặc hiệu. Thuốc còn có tác dụng làm tăng cường chức năng võ tuyến thượng thận nhờ vậy mà có tác dụng chống viêm.
  2. Thuốc có tác dụng chống ung thư: Thuốc ức chế sự phân chia sinh sản của hạch tế bào ung thư làm cho tế bào ung thư hoại tử khác biệt rõ so với lô chứng, cũng có tác giả cho rằng thuốc chỉ có tác dụng ở nồng độ cao và có tác dụng không đặc hiệu.
  3. Thuốc có tác dụng ức chế sinh sản sinh tinh dịch: Theo dõi 102 ca kiểm tra tinh dịch sau 3 tuần uống thuốc phát hiện có 77% bệnh nhân tinh trùng giảm từ 1/3 đến 1/10 so với trước khi uống thuốc.
  4. Chích nước sắc chiết cồn của thuốc làm giảm tỷ lệ tử vong của chuột do độc tố của rắn độc.
  5. Tam thảo thang (Bạch hoa xà thiệt thảo, Hạ khô thảo, Cam thảo theo tỷ lệ 2:2:1), có tác dụng bảo vệ gan, lợi mật.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị viêm ruột thừa cấp đơn thuần và viêm phúc mạc nhẹ: Dùng 60g thuốc sắc chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Bệnh nặng phối hợp thêm Hải kim sa đằng, Dã Cúc hoa hoặc thêm Đại hoàng Mẫu đơn thang, Long đởm tả can thang, Tiên phương hoạt mệnh ẩm gia giảm. Theo báo cáo của nhiều tác giả ở Trung quốc đã dùng trị trên 1000 ca kết quả tốt ( dăng trong sách " Dược lý và ứng dụng trung dược do Nhà xuất bản Vệ sinh Nhân dân xuất bản năm 1983).

2.Trị rắn cắn: Dùng thuốc 20g sắc với rượu trắng 200ml uống trong 1 ngày, dùng 2/3 thuốc chia 2 - 3 lần uống và 1/3 đắp vào vết cắn, trị 19 ca đều khỏi ( Tạp chí Y học Quảng đông - Bản Y học Tổ quốc 1965,2:11).

3.Trị chứng tích nước bìu dái (biến chứng sau khi thắt ống dẫn tinh) dùng thuốc 30g sắc chia 3 lần uống (có thể hãm nước sôi). Trị 38 ca có kết quả 34 ca (Báo cáo của Vạn hiếu Tài, Tạp chí Y học nông thôn 1987,2:11).

4.Trị viêm gan: dùng bài Tam thảo thang (Bạch hoa xà thiệt thảo 31,25g, Hạ khô thảo 31,25g, Cam thảo 15,625g chế thành sirô trị viêm gan cấp, vàng da, có kết quả 100%, ngày nằm viện bình quân 25,3 ngày ( Theo Báo cáo của Khoa nhiễm Bệnh viện trực thuộc số 2 Học viện Y học Hà nam - Bản thông tin Trung dược thảo 1978,7:28).

Liều dùng và chú ý;