Chính trị
22 Tháng Tư 2011 9:00 SA (GMT+0700)
Báo cáo tổng kết hoạt động của HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011

Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Yên khoá V, nhiệm kỳ 2004-2009 được cử tri trong tỉnh bầu ra vào ngày 25/4/2004 với 49 đại biểu. Thực hiện Nghị quyết số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội khoá XII kéo dài nhiệm kỳ hoạt động của HĐND thêm hai năm, do đó nhiệm kỳ HĐND tỉnh khoá V là bảy năm (2004-2011). 

 

hdnd1-110422.jpg

Quang cảnh kỳ họp thứ 20, HĐND tỉnh khóa V. - Ảnh: T.QUỚI

 

Qua bảy năm hoạt động thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh, bên cạnh những thuận lợi cơ bản còn gặp nhiều khó khăn thách thức, đặc biệt là khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng bất lợi đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, nhưng nhìn chung nền kinh tế tỉnh ta vẫn giữ được mức tăng trưởng khá và tương đối ổn định. Qua bảy năm, từ 2004-2011 tăng trưởng bình quân GDP hàng năm là 12,1% đây là mức tăng trưởng cao nhất qua các khoá HĐND tỉnh. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực ; kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá và các lĩnh vực xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt ; công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường được quan tâm hơn; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện. Quốc phòng - an ninh được tăng cường. Đến nay, Phú Yên đã đạt được mục tiêu tổng quát đề ra là cơ bản thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo. Vị thế của Phú Yên được nâng lên, tạo ra thế và lực mới cho công cuộc phát triển tỉnh nhà trong những năm tiếp theo.

 

Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn những tồn tại, yếu kém: do xuất phát điểm nền kinh tế tỉnh ta còn thấp, chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa vững chắc, kết cấu hạ tầng tuy có tập trung đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu…

 

Chức năng, nhiệm vụ của HĐND theo quy định của pháp luật ngày càng được tăng cường, nhưng số lượng cơ cấu, thành phần đại biểu HĐND tỉnh khoá V là 44/49 không đáp ứng yêu cầu, phần lớn là đại biểu kiêm nhiệm (có 5/49 đại biểu hoạt động chuyên trách), nhưng với tinh thần đoàn kết, nêu cao trách nhiệm, biết vận dụng và phát huy những thành quả, những bài học kinh nghiệm của HĐND tỉnh các khóa trước, tiếp tục đổi mới cả về tổ chức và nội dung hoạt động, quyết định những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng của tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, thực hiện chức năng giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật và nghị quyết của HĐND ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, kết quả đó đã góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển chung của tỉnh, được cử tri và nhân dân trong tỉnh đánh giá cao.

 

Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của HĐND tỉnh khoá V nhằm đánh giá về tổ chức và hoạt động của HĐND, những việc đã làm được, chưa làm được, ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm trên các lĩnh vực chủ yếu là giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương…. Trên cơ sở đó, kiến nghị đổi mới về tổ chức, hoạt động của HĐND trong các nhiệm kỳ tiếp theo.

 

PHẦN THỨ NHẤT

VỀ HOẠT ÐỘNG CỦA HÐND TỈNH

 

I. Kết quả thực hiện chức năng quyết định của HĐND tỉnh:

 

1. Những kết quả đạt được:

 

Về cơ bản, HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011 đã thực hiện chức năng quyết định  các vấn đề quan trọng của tỉnh (ban hành 172 nghị quyết) và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo cơ sở cho việc quản lý, điều hành kinh tế -xã hội, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội hàng năm, 5 năm 2005-2010, nổi bật trên một số lĩnh vực sau:

 

1.1. Trong lĩnh vực kinh tế:

 

- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm, 5 năm 2005-2010.

- Quyết định kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2005-2010.

- Quyết định quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, qui hoạch quản lý, sử dụng tài nguyên- khoáng sản.

- Quyết định qui hoạch xây dựng vùng tỉnh Phú Yên đến năm 2025.

- Quyết định về tiêu chí xác định các dự án, công trình quan trọng trên địa bàn tỉnh.

- Quyết định chính sách thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế Nam Phú Yên.

- Quyết định chương trình phát triển giao thông nông thôn, hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề.

- Quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm phân chia các nguồn thu giữa các cấp chính quyền địa phương trong thời kỳ ổn định (2005-2007, 2007-2010 và 2011-2015).

- Quyết định chủ trương, biện pháp thu - chi ngân sách.

- Quyết định định mức phân bổ ngân sách, chế độ tự chủ tài chính.

- Quyết định các khoản thu phí, lệ phí

- Quyết định các biện pháp thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, lãng phí trên địa bàn tỉnh.

 

1.2. Trong lĩnh vực Y tế, Giáo dục và Văn hoá - Xã hội:

 

- Quyết định chủ trương xã hội hóa trên một số lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao giai đoạn 2006-2010.

- Chuyển các trường phổ thông trung học bán công và các trường mầm non bán công, dân lập thành trường công lập; phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi.

- Quyết định các chính sách về dân số, gia đình và trẻ em.

- Quyết định các công trình văn hóa kỷ niệm 400 năm Phú Yên, gắn với Năm Du lịch Quốc gia Duyên hải Nam Trung Bộ - Phú Yên 2011.

- Quyết định các biện pháp giải quyết việc làm, giảm nghèo, xoá nhà ở tạm cho hộ nghèo giai đoạn 2006-2010.

- Quyết định chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Phú Yên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020.

- Quyết định xây dựng bệnh viện Đa khoa tỉnh, các Bệnh viện chuyên khoa và các bệnh viện tuyến huyện phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân.

 

1.3. Lĩnh vực Khoa học- Công nghệ:

 

- Quyết định chính sách phát triển khoa học công nghệ ngành, lĩnh vực tỉnh Phú Yên.

- Quyết định về phát triển công nghệ Thông tin - Truyền thông giai đoạn 2010-2015.

 

1.4. Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền:

 

- Quyết định việc thành lập, chia tách các phòng, ban cấp tỉnh, huyện.

- Quyết định việc thực hiện một số chế độ, chính sách cho cán bộ cấp xã.

- Quyết định biên chế hành chính, sự nghiệp hàng năm tỉnh Phú Yên.

- Quyết định chính sách đào tạo, thu hút nhân tài.

- Quyết định đặt, đổi tên một số đường phố và công trình trên địa bàn tỉnh.

- Quyết định việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Tuy Hòa để thành lập huyện Đông Hòa và Tây Hòa; thành lập thị xã Sông Cầu và một số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh để trình lên Chính phủ .

 

Nhìn chung, việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương trong nhiệm kỳ về cơ bản đã cụ thể hóa kịp thời và đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với tình hình thực tiễn ở địa phương, thể hiện trách nhiệm cao trước cử tri và nhân dân trong tỉnh. Việc thực hiện chức năng quyết định ngày càng đầy đủ, đúng thẩm quyền, hiệu quả, phù hợp với pháp luật, có tính chất thường xuyên và dần đi vào nền nếp. Chất lượng các nghị quyết của HĐND tỉnh được nâng lên. Về cách thức xem xét, quyết định thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị, quyết định theo đa số.

Các quyết định của HĐND tỉnh được các cấp, các ngành của tỉnh nghiêm túc triển khai và có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, thực sự là cơ sở quan trọng, là hành lang pháp lý để HĐND tỉnh thực hiện chức năng giám sát, góp sức cùng các cơ quan trong bộ máy chính quyền các cấp thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.

 

2. Những hạn chế, yếu kém:

 

Trong thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương mặc dù đã có những kết quả nhất định, nhưng so với yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và mong muốn của cử tri và nhân dân trong tỉnh thì vẫn còn những hạn chế như:

 

- Một số quyết định của HĐND tỉnh tính khả thi chưa cao, sự gắn kết giữa các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán, phân bổ ngân sách và một số nghị quyết chuyên đề chưa thực sự chặt chẽ, đặc biệt là việc bố trí các nguồn lực để đảm bảo thực hiện có hiệu quả những vấn đề đã quyết định.

 

- Một số chính sách HĐND tỉnh quyết định chưa thực sự phù hợp với yêu cầu thực tế, nên việc tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả chưa cao như: chính sách thu hút, sử dụng trí thức.

Nguyên nhân của những hạn chế đó là:

 

- Một số đại biểu nhận thức về chức năng quyết định của HĐND chưa đầy đủ, có lúc, có nơi cho rằng còn có tính hình thức, một số quyết định trên thực tế có Nghị quyết của Tỉnh ủy đã ban hành.

 

- Việc cung cấp thông tin cần thiết đến các đại biểu HĐND tỉnh, Thường trực HĐND và các Ban của HĐND tỉnh về những nội dung có liên quan đến quyết định của HĐND tỉnh còn thiếu, chưa kịp thời.

 

- Việc tổ chức và hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tỉnh, điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và cơ chế sử dụng chuyên gia chưa đáp ứng yêu cầu.

 

- Trình độ, năng lực của đại biểu, đặc biệt là kỹ năng hoạt động của một số đại biểu HĐND còn hạn chế.

 

- Qũy thời gian để các Ban của HĐND tỉnh thẩm tra các báo cáo, đề án, tờ trình, trình HĐND xem xét, quyết định ngắn, thường gần sát ngày khai mạc kỳ họp do các báo cáo gửi đến muộn, có lúc các Ban phải họp thẩm tra trên cơ sở báo cáo dự thảo.

 

- Mô hình tổ chức bộ máy tham mưu, giúp việc chưa phù hợp, chưa thu hút được công chức giỏi, có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm.

 

Những nguyên nhân cơ bản trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng các quyết định của HĐND tỉnh. 

 

lhp110422.jpg

Học Tin học của học sinh Trường THPT Lê Hồng Phong (huyện Tây Hòa). - Ảnh: T.HẰNG

 

II. Về kết quả thực hiện chức năng giám sát  của HĐND:

 

1. Những kết quả đạt được:

 

a) Hoạt động giám sát của HĐND:

 

Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh, có nhiều cải tiến về qui trình, thủ tục, cách thức giám sát nên chất lượng, hiệu quả, hiệu lực được nâng lên.

 

- Tại các kỳ họp, HĐND tiến hành giám sát bằng hình thức xem xét các báo cáo công tác của UBND, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân tỉnh được thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật. Thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của UBND tỉnh thông qua giám sát 7 chuyên đề . Trong quá trình giám sát, đại biểu HĐND đã phản ánh kịp thời những ý kiến xác đáng của cử tri, đánh giá những mặt làm được, những thiếu sót, khuyết điểm, góp phần làm sáng tỏ các bất cập của pháp luật, những vấn đề bức xúc mà thực tiễn đòi hỏi, đề ra các giải pháp để khắc phục khó khăn, hạn chế, thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời HĐND đã ban hành Nghị quyết về những vấn đề đã giám sát làm căn cứ quan trọng giúp các cơ quan hữu quan có những điều chỉnh phù hợp và nâng cao trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

 

- Về hoạt động chất vấn của HĐND tỉnh tại các kỳ họp tiếp tục được chú trọng, chất lượng được nâng lên. Việc tổng hợp chất vấn, theo dõi việc thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn, thông báo kết luận các nội dung có liên quan sau chất vấn được thực hiện một cách thường xuyên, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn. Tại các kỳ họp, không khí các phiên chất vấn sôi nổi, thẳng thắn, có tính chất xây dựng, làm rõ được nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp khắc phục những tồn tại, vướng mắc. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã có 63 lượt đại biểu HĐND chất vấn với 112 nội dung, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nổi cộm, bức xúc được cử tri quan tâm, với 57 lượt Thủ trưởng các sở, ngành, đơn vị trả lời về những vấn đề có liên quan đến trách nhiệm quản lý của mình. Thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, vai trò của HĐND trong công tác giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước tại địa phương được thể hiện rõ nét và ngày càng có tác dụng tích cực, tác động nhất định đến tâm tư, tình cảm của nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Đây cũng chính là căn cứ để đại biểu tiếp tục chất vấn, làm rõ trách nhiệm của Thủ trưởng các ngành, đơn vị, nhất là những vấn đề đã hứa trước HĐND tỉnh và cử tri. Chất vấn và trả lời chất vấn là hình thức giám sát thường xuyên của HĐND tại mỗi kỳ họp, được đại biểu HĐND, cử tri và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.

 

b) Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tỉnh:

 

Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tỉnh đã tiến hành giám sát khá toàn diện các lĩnh vực được phân công phụ trách, nội dung và hình thức giám sát được cải tiến, đổi mới, có sự lồng ghép giữa giám sát chuyên đề và giám sát thường xuyên. Hoạt động thẩm tra các báo cáo, đề án, tờ trình được chú trọng hơn.

 

Chương trình hoạt động giám sát hàng năm tập trung vào những vấn đề trọng tâm, bức xúc, phù hợp với yêu cầu của thực tế, đã làm cho hoạt động giám sát đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của cuộc sống. Thường trực HĐND tỉnh đã chỉ đạo sát sao việc triển khai chương trình giám sát của HĐND tỉnh cũng như việc thực hiện điều hòa, phối hợp với các Ban của HĐND tỉnh và các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát.

 

Trong nhiệm kỳ, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tỉnh thực hiện 56 cuộc khảo sát, giám sát  trên tất cả các lĩnh vực. Qua giám sát, các nhận định, đánh giá trong báo cáo giám sát đã phản ánh sát thực và khách quan tình hình thực tiễn, nêu bật những kết quả đạt được, kịp thời phát hiện những hạn chế tồn tại, vướng mắc trong cơ chế, chính sách, pháp luật, những yếu kém trong quản lý, điều hành. Các đề xuất, kiến nghị trong báo cáo giám sát cụ thể, có tính khả thi và tạo được sự đồng thuận cao đối với các cơ quan, đơn vị được giám sát, đã góp phần nâng cao vị thế của HĐND tỉnh; có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật; giúp UBND tỉnh, các cơ quan hữu quan và các địa phương khắc phục hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư và xây dựng; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; quản lý tài nguyên khoáng sản, môi trường; giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo… Đồng thời, đề xuất những giải pháp có hiệu quả nhằm tháo gỡ khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội.

 

2. Những hạn chế, tồn tại:

 

- Việc xem xét các báo cáo công tác của UBND, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tỉnh theo qui định của pháp luật ở khía cạnh nào đó vẫn còn mang tính hình thức. Do các vị đại biểu HĐND còn thiếu các thông tin cần thiết, tiêu chí, điều kiện thực tế cho việc đánh giá; Việc sử dụng các kênh thông tin độc lập như kiểm toán, thanh tra và sự tham gia của chuyên gia phục vụ cho yêu cầu thẩm tra, xem xét báo cáo còn hạn chế, việc thảo luận các báo cáo thường chỉ tập trung nêu thực trạng, ít đi vào phân tích, đánh giá sâu việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan theo qui định của pháp luật, nhất là hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này. Việc xác định trách nhiệm cũng chỉ dừng lại ở những đánh giá chung, chưa cụ thể, làm cho hoạt động xem xét báo cáo chưa phát huy được đầy đủ hiệu lực, hiệu quả trong giám sát tại kỳ họp.

 

- Hoạt động giám sát chuyên đề tuy đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng so với yêu cầu thì vẫn còn nhiều hạn chế. Thành viên tham gia đoàn giám sát đa số là đại biểu kiêm nhiệm, ít có thời gian nghiên cứu những nội dung liên quan đến hoạt động giám sát, nên chất lượng tham gia đóng góp ý kiến còn hạn chế. Cách thức tổ chức giám sát ở một số lĩnh vực còn bất cập, một số kết luận, kiến nghị sau giám sát chưa được quan tâm theo dõi, đôn đốc đến cùng.

 

- Năng lực giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND so với yêu cầu, nhiệm vụ còn hạn chế. Phạm vi, đối tượng giám sát quá rộng, nên hiệu quả chưa được như mong muốn.

 

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém:

 

- Một số văn bản hướng dẫn để thực hiện chính sách, pháp luật ban hành chậm, chưa có Luật giám sát cho cơ quan dân cử ở địa phương và các chế tài xử lý sau giám sát chưa rõ ràng, gây khó khăn cho cơ sở.

 

- Còn thiếu một cơ chế hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động giám sát của HĐND nói chung, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND nói riêng, từ việc bảo đảm cung cấp thông tin, bộ máy giúp việc, cơ chế tài chính phục vụ hoạt động giám sát đến việc phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa hoạt động giám sát của HĐND với hoạt động thanh, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của các cơ quan hữu quan. Bên cạnh đó, cũng có một số đại biểu HĐND có kinh nghiệm trong hoạt động HĐND nhưng lại là người đứng đầu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị nên chỉ tập trung công việc chuyên môn cơ quan, đơn vị mình là chính. Hầu hết đại biểu HĐND chưa thể tự mình tổ chức hoạt động giám sát được, mà chỉ tham gia vào các đoàn giám sát.

 

- Mặc dù chất lượng đại biểu HĐND nhiệm kỳ này đã được nâng lên, đặc biệt là đại biểu chuyên trách nhưng kỹ năng, kinh nghiệm, bản lĩnh trong hoạt động giám sát còn có những hạn chế nhất định. Cùng với những hạn chế về thẩm quyền trực tiếp xử lý kết quả sau giám sát, những hạn chế về mặt chủ quan của đại biểu cũng ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát.

 

PHẦN THỨ HAI

VỀ TỔ CHỨC, PHƯƠNG THỨC HOẠT ÐỘNG, CHẾ ÐỘ LÀM VIỆC VÀ QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA HÐND TỈNH

 

I. Cơ cấu tổ chức và hoạt động

 

1. Cơ cấu đại biểu HĐND:

 

- Trong cuộc bầu cử đại biểu HĐND tỉnh Phú Yên nhiệm kỳ 2004-2009 (nay là nhiệm kỳ 2004-2011), cử tri toàn tỉnh bầu được 49 đại biểu, tăng so nhiệm kỳ trước 4 đại biểu.

 

- Đến 20/4/2011, số lượng đại biểu HĐND tỉnh Phú Yên là 44, giảm 5 đại biểu. Trong đó, từ trần 2, xin thôi làm đại biểu 3 do chuyển công tác.

 

- Cơ cấu đại biểu tương đối hợp lý, chú trọng tỷ lệ đại biểu nữ, đại biểu ngoài Đảng. Chất lượng đại biểu được nâng lên so với nhiệm kỳ trước, cơ bản đảm bảo các tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, chính trị và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu dân cử.

 

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cơ cấu và chất lượng chưa được giải quyết căn bản, tỷ lệ đại biểu ở các cơ quan Nhà nước các cấp còn khá cao 61,22%, đặc biệt là trình độ, năng lực và điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu.

 

2. Cơ cấu tổ chức Thường trực HĐND:

- Cơ cấu tổ chức Thường trực HĐND tỉnh có nhiều đổi mới so với nhiệm kỳ 1999-2004. Thường trực HĐND tỉnh được bổ sung chức danh Uỷ viên thường trực; từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Thường trực HĐND tỉnh tuy có thay đổi nhưng luôn được kiện toàn đủ số lượng, nên hiệu quả hoạt động thường xuyên giữa hai kỳ họp đã được nâng lên.

 

- Về bố trí nhân sự: Chủ tịch HĐND từ đầu nhiệm kỳ là Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ, từ cuối năm 2008 đến nay Chủ tịch HĐND tỉnh là Bí thư Tỉnh ủy kiêm nhiệm.

 

Việc bố trí nhân sự trong Thường trực HĐND đã thực hiện theo đúng qui định của pháp luật, theo đó: Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND cấp tỉnh hoạt động chuyên trách. Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND trong xử lý những vấn đề phát sinh giữa 2 kỳ họp theo thẩm quyền cơ bản được thuận lợi, kịp thời đúng pháp luật.

 

3. Cơ cấu tổ chức các Ban của HĐND:

 

- HĐND tỉnh Phú Yên được thành lập 3 Ban, mỗi Ban có 7 thành viên. Đầu nhiệm kỳ Trưởng các Ban đều hoạt động chuyên trách. Từ năm 2008 đến nay Ban Kinh tế và Ngân sách do Uỷ viên Thường trực kiêm nhiệm, Ban Pháp chế Trưởng ban kiêm nhiệm, Phó ban hoạt động chuyên trách. Thành viên của các Ban có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động.

 

Tuy nhiên, so với thực tế yêu cầu, việc bố trí các Ban của HĐND chỉ có Trưởng hoặc Phó ban hoạt động chuyên trách đã gặp rất nhiều khó khăn trước một khối lượng công việc rất lớn, sự tham gia của các đại biểu là thành viên Ban kiêm nhiệm còn hạn chế, đã ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ban.

 

4. Về cơ cấu Tổ đại biểu HĐND tỉnh:

 

Tổ đại biểu được thành lập theo đơn vị bầu cử, có Tổ trưởng phụ trách chung,  toàn tỉnh có 15 Tổ đại biểu. Thực tiễn qua hoạt động cho thấy Tổ đại biểu HĐND là tương đối phù hợp, hoạt động có hiệu quả. Thông qua Tổ đại biểu mà hoạt động của đại biểu được phát huy, mở rộng quan hệ với cử tri, đồng thời tạo điều kiện để các đại biểu hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình trong các lĩnh vực giám sát, tiếp xúc cử tri, giữ mối quan hệ công tác và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa phương và tại các kỳ họp HĐND tỉnh, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động chung của HĐND tỉnh. Đặc biệt từ khi thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện thì mối quan hệ và trách nhiệm giữa Tổ đại biểu và UBND huyện được tăng cường.

 

Tuy nhiên, kết quả hoạt động của mỗi tổ đại biểu có sự khác nhau, phần lớn phụ thuộc vào cơ cấu và thành phần đại biểu. Một số Tổ đại biểu chưa thực hiện hết chức năng, quyền hạn trong hoạt động tiếp xúc cử tri, tham dự các kỳ họp, ở khía cạnh nào đó còn mang tính hình thức.

 

5. Về hoạt động của HĐND qua các kỳ họp:

 

- Đến nay, HĐND khoá V, nhiệm kỳ 2004-2011 đã tiến hành 20 kỳ họp (trong đó có 4 kỳ họp bất thường), đã ban hành 172 nghị quyết, các kỳ họp HĐND được chuẩn bị chu đáo, diễn ra đúng luật và ngày càng có chất lượng. Thường trực HĐND đã chủ động hơn trong việc phối hợp với UBND, Trưởng, Phó các Ban của HĐND, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các ngành hữu quan tổ chức hội nghị liên tịch dự kiến nội dung, chương trình và phân công chuẩn bị kỳ họp, đồng thời lựa chọn những vấn đề trọng tâm của địa phương để đưa ra thảo luận, xem xét và quyết định tại kỳ họp, góp phần khơi dậy, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, đem lại lợi ích thiết thực cho đời sống nhân dân.

 

- Việc điều hành kỳ họp của Thường trực HĐND đã được cải tiến đáng kể, rút ngắn thời gian trình bày các báo cáo, dành nhiều thời gian cho thảo luận các báo cáo, đề án, tờ trình, chất vấn và trả lời chất vấn và thực hiện công tác giám sát chuyên đề tại kỳ họp. Thường trực HĐND đã chú trọng định hướng để đại biểu thảo luận những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa đạt sự thống nhất cao, những vấn đề mà cử tri quan tâm, dư luận xã hội còn nhiều bức xúc. Do vậy, kỳ họp HĐND tỉnh đã tạo được không khí dân chủ, cởi mở, phát huy được trí tuệ tập thể khi thảo luận và quyết định.

 

- Tỷ lệ đại biểu tham dự kỳ họp HĐND đạt trung bình trên 90%,  đại biểu HĐND đã dành nhiều thời gian nghiên cứu các báo cáo, đề án, tờ trình và dự thảo nghị quyết do UBND tỉnh và các ngành hữu quan trình, nên chất lượng thảo luận, tranh luận tại kỳ họp ngày càng cao, nhiều ý kiến nêu ra rất xác đáng, là cơ sở quan trọng để HĐND tỉnh xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng theo thẩm quyền. Nghị quyết tại mỗi kỳ họp được UBND tỉnh triển khai có hiệu quả.

 

- Công tác tổ chức tuyên truyền, đưa tin về kỳ họp đã được chú trọng, các kỳ họp HĐND tỉnh đều tổ chức phát thanh, truyền hình trực tiếp phiên khai mạc, thảo luận tại hội trường, giám sát chuyên đề tại kỳ họp, chất vấn, trả lời chất vấn của đại biểu HĐND tỉnh và phiên bế mạc, tạo điều kiện cho cử tri và nhân dân theo dõi, góp phần mở rộng dân chủ, công khai về các hoạt động của HĐND, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của đại biểu HĐND và các cơ quan hữu quan.

 

Bên cạnh những mặt đạt được, hoạt động của HĐND tại kỳ họp thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế như: tuy đã có cố gắng rất lớn nhưng chất lượng một số nghị quyết chưa cao; qui trình thảo luận, thông qua các nghị quyết vẫn còn có điểm cần được tiếp tục cải tiến; gửi tài liệu đối với một số nội dung của kỳ họp vẫn còn chậm, chưa bảo đảm thời hạn theo luật định; cung cấp các tài liệu tham khảo liên quan đến một số nội dung của kỳ họp còn thiếu, chưa kịp thời nên đại biểu HĐND tỉnh gặp khó khăn trong việc chuẩn bị ý kiến phát biểu, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng các quyết định của HĐND tỉnh. Một số đại biểu HĐND tỉnh phát biểu còn nặng về phê phán, ít đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề, có khi chưa đứng trên cương vị là người đại biểu đại diện cho nhân dân và cử tri trong tỉnh. Các công tác đảm bảo khác tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn bộc lộ một số bất cập như: điều kiện cơ sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu đồng bộ và phân tán nên có khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả phục vụ kỳ họp. Chế độ, chính sách đối với đại biểu HĐND nói chung và đại biểu chuyên trách nói riêng đã có sự quan tâm, nhưng cần phải được tiếp tục bổ sung và hoàn thiện, hướng tới thực sự đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu.

 

6. Về hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân:

 

a) Hoạt động tiếp xúc cử tri:

 

Hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND tỉnh đã có nhiều đổi mới cả về nội dung và hình thức. Đại biểu HĐND ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này, hầu hết các đại biểu HĐND tỉnh đã chủ động xây dựng được kế hoạch, chương trình và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong tiếp xúc cử tri. Hình thức tiếp xúc cử tri được mở rộng, ngoài việc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp, một số đại biểu đã tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, tiếp xúc nơi cư trú. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đại biểu HĐND đã tiến hành tiếp xúc 30 lượt (15 kỳ họp thường lệ, mỗi lượt tiếp xúc tại 57 điểm), với 75.346 cử tri tham dự. Trong tiếp xúc cử tri, ngoài việc thông báo nội dung chương trình kỳ họp và tiếp thu ý kiến, kiến nghị cử tri, việc trao đổi thông tin giữa cử tri và đại biểu HĐND về chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải đáp các thắc mắc, tạo không khí cởi mở, dân chủ, đi vào những vấn đề cụ thể liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế -xã hội ở địa phương, nên chất lượng các buổi tiếp xúc được nâng lên, số lượng cử tri tham gia bình quân mỗi điểm tiếp xúc khoảng từ 50-100 người; về kỹ năng tiếp xúc của đại biểu cũng được nâng lên rõ rệt.

 

Vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Tổ đại biểu HĐND, TT HĐND, UBND và các cơ quan Nhà nước ở địa phương ngày càng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước cử tri qua mỗi lần tiếp xúc, đặc biệt là UBND các cấp đã phân công từng thành viên Ủy ban nhân dân tham dự để giải đáp và ghi nhận các ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc trách nhiệm giải quyết của cấp mình, những nội dung chưa giải đáp tại buổi tiếp xúc có liên quan đến sự chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, các ngành hữu quan được đại biểu HĐND ghi nhận và tổng hợp gửi về Thường trực HĐND, UBMT Tổ quốc cùng cấp để chuyển đến cơ quan có thẩm quyền trả lời, giải trình tại kỳ họp, tạo được sự đồng thuận nhất trí cao trong nhân dân. 

 

Bên cạnh những mặt đạt được, trong tiếp xúc cử tri vẫn còn một số tồn tại đó là: một số đại biểu HĐND còn vắng mặt trong hoạt động tiếp xúc cử tri; việc phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri chưa đúng lĩnh vực và thẩm quyền giải quyết; chưa thường xuyên đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết các ý kiến, nguyện vọng của cử tri giữa 2 kỳ họp; một số điểm tiếp xúc cử tri tham gia chưa nhiều, chưa đủ các thành phần trong nhân dân, nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng tiếp xúc cử tri.

 

b) Về công tác tiếp công dân:

 

- Công tác tiếp công dân được Thường trực HĐND tỉnh thực hiện theo lịch tiếp công dân vào ngày 28 hàng tháng tại trụ sở tiếp công dân của UBND tỉnh và tại cơ quan làm việc. Kết quả từ đầu nhiệm kỳ đến nay Thường trực HĐND tỉnh đã tiếp 68 lượt công dân đến khiếu nại và đưa đơn khiếu nại tố cáo; Quá trình tiếp công dân, cán bộ tiếp dân lắng nghe và ghi chép đầy đủ nội dung phản ánh của công dân trên từng lĩnh vực. Sau khi xem xét đã giải thích, hướng dẫn công dân đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Đồng thời theo dõi, đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết những khiếu nại, tố cáo của công dân theo qui định.

 

Tuy nhiên, đa số các Ban của HĐND, đại biểu HĐND tỉnh chưa tham gia tiếp công dân theo qui định. Công tác đôn đốc cơ quan có thầm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân chưa thường xuyên, nhất là một số đơn thư khiếu nại về lĩnh vực đền bù, giải phóng mặt bằng, về thực hiện một số chính sách…Bên cạnh đó là cơ chế qui định trách nhiệm người đứng đầu giải quyết khiếu nại, tố cáo, chế độ thưởng, phạt không rõ ràng, một số công dân không chấp hành nghiêm quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan có thẩm quyền khi đã có hiệu lực. 

 

7. Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND:

 

Từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 8/2008 Văn phòng HĐND tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc cho HĐND, Thường trực HĐND và đại biểu HĐND tỉnh. Thực hiện Nghị quyết số 545/NQ-UBTVQH ngày 11/12/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc hợp nhất 2 Văn phòng và việc thành lập Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND tỉnh. Đây là hành lang pháp lý quan trọng để thực hiện củng cố, kiện toàn bộ máy Văn phòng nhằm thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh.

 

Kinh phí hoạt động của HĐND hàng năm được dự toán và phân bổ từ ngân sách Nhà nước địa phương, sử dụng đúng mục đích, yêu cầu và tiết kiệm, cơ bản đảm bảo cho nhu cầu hoạt động của HĐND.

 

8. Về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND các huyện, phường:

 

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, các địa phương đã tổ chức thực hiện tốt công tác quán triệt, triển khai, tuyên truyền, chỉ đạo, hướng dẫn chủ trương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường theo Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tiến hành tổng kết và kết thúc nhiệm kỳ hoạt động HĐND; sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương kết hợp với giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ thuộc diện phải sắp xếp theo đúng qui định; UBND các huyện, phường tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, trình UBND cấp trên phê duyệt và triển khai kịp thời. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của địa phương đều đạt và vượt kế hoạch so với cùng kỳ; an ninh chính trị và trật tự an toàn-xã hội được ổn định, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên.

 

Tuy nhiên, gần hai năm thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, phường, nhưng nguồn nhân lực, điều kiện làm việc của HĐND cấp tỉnh chưa được bổ sung, vì theo Nghị quyết 725 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì công tác giám sát đối với hoạt động của UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, giám sát việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật của HĐND cấp xã giao HĐND cấp tỉnh thực hiện; chưa có hướng dẫn cụ thể việc giám sát của MTTQVN và đoàn thể các cấp nơi thí điểm không tổ chức HĐND huyện, phường, nên trong quá trình triển khai còn lúng túng; chưa có những cơ chế mới để người dân tham gia giám sát và quyết định những vấn đề lớn của địa phương nơi không tổ chức  HĐND.

 

II. Mối quan hệ công tác của HĐND tỉnh:

 

Để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, HĐND, Thường trực HĐND tỉnh đã chú trọng xây dựng được mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan, tổ chức hữu quan, thể hiện như sau:

 

1. Mối quan hệ với các cơ quan Trung ương:

 

- HĐND tỉnh mà đại diện là Thường trực HĐND tỉnh luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, thực hiện đầy đủ các yêu cầu đề ra; luôn phối hợp với Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội về thực hiện chương trình giám sát tại địa phương theo kế hoạch.

 

- Thực hiện đầy đủ báo cáo định kỳ cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ về hoạt động của HĐND theo qui định của pháp luật.

 

- Phối hợp tổ chức cho đại biểu HĐND tham gia tập huấn kỹ năng nghiệp vụ hoạt động, giám sát theo dự án nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan dân cử do các cơ quan của Quốc hội, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử tổ chức.

 

Phu-Minh-kiem-nghiem-110422.jpg

Nghiên cứu khoa học tại một doanh nghiệp ở Phú Yên. - Ảnh: M.NGUYỆT

 

2. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng; mối quan hệ công tác với các cơ quan, tổ chức:

 

a) Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với HĐND tỉnh:

 

Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung, HĐND tỉnh nói riêng. Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, HĐND tỉnh khoá V luôn nắm vững, quán triệt nghiêm túc, thể chế hóa kịp thời, đúng đắn các chủ trương, đường lối của Đảng, của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và hoạt động giám sát. Thường trực HĐND, các Ban của HĐND chủ động góp ý, kiến  nghị trực tiếp với Ban chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ hoặc thông qua Đảng đoàn HĐND những vấn đề đường lối, chủ trương quan trọng liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trước khi quyết định, từng bước bảo đảm sự đồng thuận thực sự khi quán triệt quan điểm của Đảng trong việc xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.  

 

b) Mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức địa phương:

 

- Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, duy trì thường xuyên tham dự các kỳ họp UBND và ngược lại, nhằm trao đổi thông tin hai chiều cho nhau. Đồng thời cũng đã thực hiện kiểm tra, đôn đốc các cơ quan Nhà nước ở địa phương tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết HĐND.

 

- Do đặc thù về tổ chức và điều kiện hoạt động của HĐND, nên chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND phụ thuộc khá lớn vào tinh thần trách nhiệm, sự cộng tác chặt chẽ của nhiều cơ quan hữu quan, nhất là UBND và Ủy ban MTTQVN tỉnh. HĐND tỉnh khoá V mà đại diện là Thường trực HĐND đã tăng cường và chú trọng mối quan hệ phối hợp công tác giữa Thường trực HĐND với các cơ quan hữu quan, bảo đảm sự chặt chẽ, hiệu quả và có nền nếp hơn, thể hiện rõ ở các lĩnh vực công tác, đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND và các Ban của HĐND. Sự phối hợp công tác giữa Thường trực HĐND với UBND, UBMTTQVN tỉnh trong việc chuẩn bị nội dung, chương trình của các kỳ họp, giải quyết các vấn đề phát sinh giữa 2 kỳ họp thuộc quyền hạn của HĐND được kịp thời hơn, vì vậy chất lượng chuẩn bị các nội dung trình HĐND xem xét, quyết định và kết quả giám sát đã có chuyển biến tích cực.

 

- Mối quan hệ giữa HĐND, Ủy ban MTTQ cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận là quan hệ phối hợp, tạo điều kiện để cùng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo qui định của pháp luật, thông qua các hội nghị, các báo cáo công tác. Hầu hết các cuộc họp của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND khi bàn các vấn đề có liên quan đến tổ chức, hoạt động của HĐND đều mời UBMT, Đoàn ĐBQH tỉnh và đại diện các đoàn thể tham dự và ngược lại. Phối hợp tốt với Ủy ban MTTQ trong tổ chức cho đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri. Tại các kỳ họp HĐND, Ủy ban MTTQ đều báo cáo công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền và những ý kiến, kiến nghị của Mặt trận với HĐND, UBND.

 

- Về quan hệ giữa Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân được duy trì thường xuyên qua các hội thảo, hội nghị, tham gia lấy ý kiến các dự án luật mà Uỷ ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu. Tại các kỳ họp HĐND, các cơ quan Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đều thực hiện tốt báo cáo công tác của ngành mình theo qui định của pháp luật. Đặc biệt là báo cáo trước HĐND việc xử lý những vụ việc nổi cộm, phức tạp về tiêu cực, tham nhũng mà dư luận quan tâm.

 

- Thường xuyên phối hợp với Đoàn ĐBQH tỉnh thực hiện chương trình giám sát, tiếp xúc cử tri và tham gia góp ý vào các dự án luật do Đoàn ĐBQH tỉnh tổ chức.

 

- Mối quan hệ phối hợp hoạt động giữa HĐND tỉnh với HĐND thành phố, thị xã và HĐND các xã ngày càng được tăng cường thông qua các hoạt động giao ban quí, hướng dẫn hoạt động, phối hợp thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, nhất là lĩnh vực giám sát của HĐND.

 

3. Giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri và nhân dân:

 

Tiếp thu bài học kinh nghiệm từ các nhiệm kỳ trước, HĐND tỉnh khoá V tiếp tục phát huy sự quan tâm, ủng hộ của cử tri và nhân dân trong tỉnh, khẳng định sâu sắc hơn niềm tin của nhân dân đối với HĐND tỉnh. Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND tỉnh đã nỗ lực rất nhiều để từng bước thực hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, xử lý và giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của nhân dân có nhiều tiến bộ, được cử tri ghi nhận và đánh giá cao. Hoạt động của HĐND ngày càng được công khai, minh bạch, gần gũi với cuộc sống của nhân dân, phản ánh khá sát thực, kịp thời những yêu cầu chính đáng của nhân dân về phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, tài nguyên khoáng sản, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực…Việc thông tin, tuyên truyền về hoạt động của HĐND, nhất là những nội dung được đưa ra xem xét, quyết định tại kỳ họp HĐND được coi trọng, chuyển tải kịp thời, tăng cả số lượng và chất lượng thông tin. Kết quả hoạt động của HĐND tỉnh ngày càng gần với mong muốn của nhân dân, là lời giải của nhiều vấn đề được thực tiễn đặt ra. Ý kiến của nhân dân được HĐND nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu và coi là căn cứ quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

 

Đặc biệt gần đây, Đoàn ĐBQH phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND tỉnh phối hợp với các cơ quan báo chí đã xây dựng kênh thu thập ý kiến, kiến nghị của cử tri thông qua việc mở chuyên mục “Tiếng nói  cử tri” trên sóng phát thanh, truyền hình và báo viết của tỉnh, được nhân dân rất đồng tình đánh giá cao.

 

PHẦN THỨ BA

ÐÁNH GIÁ CHUNG, BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUA THỰC TIỄN TỔ CHỨC, HOẠT ÐỘNG CỦA HÐND VÀ KIẾN NGHỊ

 

1. Đánh giá chung:

 

HĐND tỉnh Phú Yên Khoá V đã thừa kế và tiếp thu đổi mới về hình thức và nội dung hoạt động hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ theo qui định của pháp luật, những kết quả nổi bật trong nhiệm kỳ qua là:

 

- Tính công khai, dân chủ trong hoạt động của HĐND thể hiện tại diễn đàn các kỳ họp, sự phối hợp đồng bộ, có trách nhiệm trong điều hành công việc của Thường trực HĐND thể hiện rõ tính chủ động, sáng tạo ngày càng thu hút được sự quan tâm ủng hộ của cử tri và nhân dân trong tỉnh.

 

- Có nhiều đổi mới trong nhận thức và thực tiễn hoạt động của HĐND, chế độ làm việc khoa học, nền nếp hơn. Nhất là sự đồng thuận cao khi triển khai thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, phường theo Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

 

- Quyết định nhiều chủ trương biện pháp quan trọng phát triển kinh tế -xã hội, ngân sách và các chính sách an sinh xã hội bước đầu đáp ứng được nguyện vọng của cử tri.

 

- Hoạt động giám sát được tăng cường về số lượng, chất lượng được nâng lên.

 

- Tổ chức bộ máy được củng cố, kiện toàn từng bước ổn định, cơ bản đáp ứng yêu cầu của hoạt động thực tiễn; bộ máy giúp việc được quan tâm và từng bước kiện toàn cả về công tác chuyên môn và các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật.

 

Đạt được kết quả quan trọng trên đây trước hết do đường lối đúng đắn của Đảng nói chung, sự đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thường trực Tỉnh uỷ đối với HĐND tỉnh nói riêng; sự tích cực, chủ động, nỗ lực, quyết tâm, đề cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và các đại biểu HĐND tỉnh; tinh thần cộng tác phối hợp chặt chẽ của UBND tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các cơ quan hữu quan và nhân dân; sự kế thừa và phát huy kinh nghiệm, thành quả đạt được của các nhiệm kỳ HĐND tỉnh trước đây; đặc biệt là nhận thức của cả hệ thống chính trị và về vị trí, vai trò của HĐND trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được nâng lên; đồng thời thực tế cuộc sống cũng đòi hỏi HĐND phải vươn lên ngang tầm với yêu cầu của tình hình mới.

 

Mặc dù đạt được thành tích đáng khích lệ, nhưng trong nhiệm kỳ qua, hoạt động của HĐND tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định: nhận thức về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND có lúc, có nơi chưa thật sự đầy đủ. Công tác qui hoạch cán bộ HĐND chưa được quan tâm đúng mức, một số đại biểu chưa thực hiện hết vai trò, chức năng của người đại biểu dân cử; hệ thống pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa thật sự đồng bộ, có chỗ còn thiếu thống nhất, các qui định về hoạt động giám sát mới chỉ qui định trong một chương của Luật tổ chức HĐND&UBND nên chưa bảo đảm tính đầy đủ, chi tiết; tỷ lệ đại biểu của các cơ quan hành chính trong HĐND các cấp còn cao, mối quan hệ giữa cơ cấu và chất lượng chưa được giải quyết hợp lý, hoạt động giám sát chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn đòi hỏi, mới chú trọng về chiều rộng, chưa đạt yêu cầu về chiều sâu, chưa có chế tài trong hoạt động giám sát nên hiệu lực của các kết luận giám sát còn hạn chế. Việc quyết định các vấn đề quan trọng cần tiếp tục khắc phục tính hình thức, đổi mới cách thức thực hiện để nâng cao chất lượng quyết định của HĐND tỉnh. Hiện nay Phú Yên đang thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, phường, nên HĐND cấp xã bố trí 1 thành viên chuyên trách chưa đảm bảo cho hoạt động của HĐND cơ sở; các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND đã được chú trọng, tuy nhiên HĐND cấp xã chưa được quan tâm đúng mức về nhân sự và điều kiện làm việc.

 

mia110422.jpg

Nông dân Phú Yên có thu nhập cao từ cây mía. - Ảnh: N.CHUNG

 

2. Một số kinh nghiệm:

 

Từ những ưu điểm và hạn chế trong tổ chức và hoạt động của nhiệm kỳ HĐND tỉnh Khoá V có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

 

Một là, kế thừa và tiếp tục đổi mới linh hoạt trong hoạt động, vận dụng sáng tạo chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn ở địa phương là yếu tố có tính chất quyết định, thúc đẩy chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND.

 

Hai là, cán bộ chuyên trách HĐND phải có bề dày kinh nghiệm, năng lực hoạt động thực tiễn, nhiệt tình, tâm huyết và không sợ va chạm; dân chủ và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của nhân dân, phản ánh kịp thời nguyện vọng của nhân dân vào các hoạt động của HĐND.

 

Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, tăng cường cả về số lượng, chất lượng đại biểu HĐND chuyên trách. Đồng thời, bố trí đội ngũ CBCC tham mưu giúp việc phải xứng tầm với nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND.

 

Bốn là, công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND, nhất là chuẩn bị về nội dung phải bảo đảm các yêu cầu về số lượng, chất lượng, cung cấp và thông tin kịp thời cho đại biểu HĐND những nội dung quan trọng của kỳ họp nhằm nâng cao hiệu quả kỳ họp HĐND. Cách thức tiến hành, điều hành kỳ họp được cải tiến đảm bảo tính linh hoạt, khoa học và thực sự dân chủ, có trách nhiệm cao sẽ giúp HĐND đưa ra những quyết định có chất lượng, sát thực tiễn, hợp lòng dân.

 

Năm là, Hoạt động quyết định phải tạo cơ chế dân chủ, hoàn thiện và thực hiện qui trình rõ ràng, đầy đủ từ khâu lập đề án, tờ trình đến khi trình HĐND xem xét, thông qua, đảm bảo tính chặt chẽ và thực chất trong quyết định. Hoạt động giám sát có hiệu lực, hiệu quả khi dựa trên căn cứ pháp lý cụ thể rõ ràng, hoàn thiện; bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm cao của người đại biểu nhân dân; chất vấn và trả lời chất vấn được cải tiến đổi mới, dân chủ và trách nhiệm, có kết luận của Chủ tọa kỳ họp và theo dõi thực hiện nghiêm túc.

 

Sáu là, phát huy tốt vai trò, trí tuệ, trách nhiệm, sự đồng thuận, nhất trí cao, cộng đồng trách nhiệm của tập thể của HĐND, các cơ quan của HĐND, các đại biểu HĐND, của UBND và  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các cơ quan hữu quan và sự đóng góp của nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND.

 

Bảy là, các điều kiện hỗ trợ, tạo thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu HĐND, cơ quan hữu quan tại kỳ họp được quan tâm, tăng cường trong điều kiện cho phép như: chế độ, chính sách, cung cấp thông tin, tài liệu, đảm bảo yêu cầu về vật chất- kỹ thuật, công nghệ thông tin, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND tỉnh.

 

3. Kiến nghị:

 

Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả, bảo đảm HĐND thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, trong thời gian tới, HĐND tỉnh xin kiến nghị một số vấn đề sau:

 

a). Kiến nghị với các cơ quan Đảng:

 

1. Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới của HĐND tỉnh, kiến  nghị bố trí đủ đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng và chất lượng; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để HĐND phát huy tính năng động, sáng tạo, nâng cao trách nhiệm trước Đảng và nhân dân.

 

2. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng về vị trí, vai trò của HĐND, trên cơ sở đó đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với HĐND để HĐND thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

 

b) Kiến nghị với Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

 

1. Đối với Phú Yên, đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, phường, đề nghị sửa đổi và bổ sung Luật Tổ chức HĐND &UBND theo hướng qui định bổ sung thêm một chức danh chuyên trách trong Thường trực HĐND cấp xã để đảm bảo chế độ làm việc tập thể; thành lập Ban ở HĐND cấp xã để thực hiện nhiệm vụ thẩm tra, giám sát. Đề nghị Trung ương sau tổng kết thực hiện thí điểm mô hình này, cần có văn bản hướng dẫn UBND huyện chỉ đạo hoạt động của HĐND cấp xã khi không có HĐND cấp huyện.

 

2. Ban hành Luật về hoạt động giám sát của HĐND.

 

3. Trong phạm vi thẩm quyền, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần tăng cường công tác giám sát và hướng dẫn hoạt động HĐND các cấp, tổ chức các lớp bồi dưỡng để nâng cao kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND một cách thường xuyên, liên tục.

 

4. Ban hành qui định thống nhất trong cả nước về chế độ sử dụng kinh phí HĐND các cấp, bộ máy giúp việc nhằm khắc phục tình trạng mỗi địa phương có chế độ chi tiêu khác nhau.

 

c) Đối với HĐND tỉnh khoá VI:

 

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quyết định, giám sát, nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đại biểu HĐND trước nhân dân.

 

- Củng cố và hoàn thiện bộ máy giúp việc theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiệu quả trong công tác tham mưu giúp việc.

 

------------------

(1) Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu GDP cuối năm 2005: Nông- lâm- thuỷ sản 35,7%; công nghiệp-XD 30%; dịch vụ 34,3%. Đến cuối năm 2010, tỷ trọng các ngành trong cơ cấu GDP tương ứng là: 29,27%- 34,4 %-36,4% và GDP bình quân đầu người đạt 15,8 triệu đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2005.

(2)Tỷ lệ hộ nghèo từ 19,3% năm 2005 giảm xuống còn 9% năm vào cuối năm 2010 (theo chuẩn nghèo năm 2006), đạt kế hoạch đề ra; Giải quyết việc làm bình quân 25.350 lao động, kế hoạch đề ra là 25.000.

(3) Xem phụ lục 1

(4) Tình hình thực hiện qui hoạch xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp trong tỉnh; về đầu tư dự án Nam thành phố Tuy Hòa-Vũng rô; thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng theo Nghị quyết của Quốc hội; thực hiện xây dựng một số dự án, công trình quan trọng theo nghị quyết của HĐND; việc thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tình hình thực hiện chính sách pháp luật về thu hồi đất, giao đất, bồi thường, hỗ trợ, tại định cư và giải quyết việc làm 9 dự án lớn trên địa bàn tỉnh.

(5) Xem phụ lục 2

(6) Đại biểu nữ 13, chiếm 26,5%, ĐB người dân tộc 02, chiếm 6,1%, Đb tôn giáo 02, chiếm 04%, đại biểu ngoài đảng 05, chiếm 10,2%, Đb tái cử 17, chiếm 34,69%.

- ĐB các cơ quan Đảng 04, chiếm 8,16%, Mặt trận, đoàn thể 06, chiếm12,24%, tổ chức, sự  nghiệp 03, chiếm 6,12%, tổ chức KT 03, chiếm 6,12%, LLVT 02, chiếm 4,04%, cơ quan hành chính các cấp 30, chiếm 61.22%.

Viết bình luận của bạn ở đây
Họ tên:
Email:
Tiêu đề:
Bình luận:
Mã bảo mật:
Mã bảo mật
Các tin khác:
  
Loại Mua Bán
Đvt: triệu đồng/lượng
  
THỜI TIẾT
LIÊN KẾT
Báo Phú Yên điện tử - http:// www.baophuyen.com.vn. Cơ quan chủ quản: Tỉnh ủy Phú Yên
Giấy phép xuất bản số 210/GP-BC của Bộ Văn hóa - Thông tin cấp ngày 17-11-2005
Tòa soạn: 62 Lê Duẩn, TP.Tuy Hòa. Điện thoại: (057).2211110 - (057).3842488, Fax: 057.3841275.
E-mail: toasoandientu@baophuyen.com.vn. Ghi rõ nguồn "Báo Phú Yên điện tử" khi sử dụng lại thông tin từ website này.
Tổng biên tập: Phạm Thanh Phong
Trang chủ | Toà soạn | Quảng cáo | Đặt báo | Liên hệ
Bản quyền 2005 thuộc Báo Phú Yên Online
Thiết kế bởi nTek